Các Điều Kiện Vãng Sanh Cực Lạc
(Chín Phẩm Liên Hoa, Vãng Sanh Cực Lạc)
Bốn mươi tám nguyện độ chúng sanh,
Nghịch ác hướng lòng cũng tiếp nghênh,
Xen trộn đúng - sai không chọn lựa,
Vì thương những kẻ Phật chưa thành.
Đại Sư Ấn Quang
|
A Di Đà Phật Thập Cam Lộ Đà Ra Ni
| Na mô rát na tờ gia gia gia, na mắc a ry gia, a mi ta pha gia, ta tha ga ta gia, a rờ ha tê, sam giác sam bút đa gia, ta đi gia tha: om a mờ rật tê, a mờ rật tô đờ pha vê, a mờ rật ta sam pha vê, a mờ rật ta ga ri phê, a mờ rật ta sít đê, a mờ rật ta tê rê, a mờ rật ta vi hờ rim tê, a mờ rật ta vi hờ rim ta, ga mi nê, a mờ rật ta ga ga na, ki ti ka rê, a mờ rật ta đun đa phi sờ va rê, sạc va rờ tha sa đa nê, sạc va kác ma, ka lê sa, ka sa, giam ka lê sờ va ha. |
Vô Lượng Thọ Như Lai Đà La Ni này, vừa mới tụng một biến, liền diệt tội mười ác, bốn Trọng, năm Vô Gián trong thân. Tất cả nghiệp chướng thảy đều tiêu diệt.
Nếu Bật Sô (Bhikṣu), Bật Sô Ni (Bhikṣuni) phạm vào tội căn bản, tụng bảy biến xong, tức thời trở lại được Giới Phẩm thanh tịnh.
Tụng mãn một vạn biến đắc được Bất Phế Vong Bồ Đề Tâm Tam Ma Địa. Tâm Bồ Đề hiển hiện trong thân, sáng tròn trịa trắng tinh giống như mặt trăng trong sạch. Lúc mệnh chung thời nhìn thấy Đức Vô Lượng Thọ Như Lai cùng với vô lượng câu chi chúng Bồ Tát vây quanh, đi đến nghinh đón Hành Giả, an ủi Thân Tâm, liền sinh về Thế Giới Cực Lạc, Thượng Phẩm Thượng Sinh, chứng địa vị của Bồ Tát”.
“Tịnh độ Thập yếu thứ tám, Bảo vương Tam Muội Niệm Phật Trực Chỉ, quyển hạ” ghi nhận là: “Trong kẻ ấy nếu có Nghiệp đời trước khiến cho Nguyện Hành có thiếu sót thì thường nên một lòng tụng Bạt Nhất Thiết Khinh Trọng Nghiệp Chướng Đắc Sinh Tịnh Độ Đà La Ni này. Nếu trì một biến liền diệt hết thảy tất cả nhóm tội năm nghịch, mười ác trong thân. Nếu trì mười vạn biến liền được Tăm Bồ Đề chẳng bỏ quên. Nếu trì hai vạn biến liền cảm được mầm Bồ Đề sinh. Nếu trì ba vạn biến thì Đức Phật A Di Đà thường trụ trên đỉnh đầu người ấy, quyết định sinh về Tịnh Thổ”.
Các Điều Kiện Vãng Sanh Cực Lạc
I- THƯỢNG PHẨM:
Thượng Phẩm Thượng Sinh Chân Sắc Địa dành cho những Tín Đồ đã hoàn thành ba thái độ: Thành Thật, tin tưởng thâm sâu, giữ niệm bền chắc… được tái sinh vào Tịnh Thổ, ngồi trên tòa Kim Cương. Tùy theo sự tương ứng với mức độ hoàn thành nên có ba bậc. Thủ Ấn của Phật A Di Đà khi tiếp dẫn là: ngón cái đặt trên ngón trỏ.
1/. Thượng Sinh:
Phát tâm chí thành, tin sâu, hồi hướng phát nguyện
Có 3 hạng Hữu Tình:
1. Có lòng thương xót, không giết hại, giữ tròn các Giới Hạnh
2. Đọc tụng Kinh Phương Đẳng Đại Thừa
3. Tu hành Sáu Niệm, hồi hướng phát nguyện sinh về Cực Lạc
2. Đọc tụng Kinh Phương Đẳng Đại Thừa
3. Tu hành Sáu Niệm, hồi hướng phát nguyện sinh về Cực Lạc
Tinh tiến dũng mãnh tu từ 01 ngày cho đến 07 ngày, liền được vãng sinh.
Thủ Ấn: Ngón cái và ngón trỏ của mỗi bàn tay nắm lại, cả hai tay để bên mé mắt hướng ra ngoài.
Chân Ngôn là: OṂ _ AMṚTODBHAVE DHARMA HRĪḤ SVĀHĀ
2/. Trung Sinh:
Thượng Phẩm Trung Sinh Vô Cấu Địa. Chúng sinh tuy thọ trì Kinh Phương Đẳng nhưng khéo hiển nghĩa thú, đối với Đệ Nhất Nghĩa, tâm không kinh động, tin sâu lý nhân quả, không phỉ báng Pháp Đại Thừa. Hành Giả đem Công Đức này, niệm Phật hồi hướng cầu sinh về Cực Lạc (Sukhavatī).
Thủ Ấn là: Hai ngón cái nắm hai ngón giữa ở đầu ngón.
Chân Ngôn là: OṂ _ AMṚTA-SAṂBHAVE DHARMA HRĪḤ SVĀHĀ
3/. Hạ Sinh:
Thượng Phẩm Hạ Sinh Ly Cấu Địa. Tuy tin Nhân Quả, không phỉ báng Đại Thừa nhưng chỉ phát tâm cầu Đạo Vô Thượng rồi đem Công Đức đó niệm Phật, nguyện về Cực Lạc.
Thủ Ấn: 2 ngón cái đè trên 2 ngón vô danh.
Chân Ngôn là: OṂ _ AMṚTA-GARBHE DHARMA HRĪḤ SVĀHĀ
II- TRUNG PHẨM:
Dành cho những Tín Đồ đã đi theo những con đường khác hơn là sự sùng mộ duy nhất đối với Phật A Di Đà, tuy vậy vẫn cảm thấy muốn được tái sinh vào Tịnh Thổ. Tùy theo trình độ thuần khiến, những người này sẽ ngồi trên các tòa sen với ba độ nở khác nhau theo ba cấp bậc. Thủ Ấn của Phật A Di Đà khi tiếp dẫn là: ngón cái đặt trên ngón giữa.
1/. Thượng Sinh:
Trung Phẩm Thượng Sinh Thiện Giác Địa, Thọ Năm Giới, giữ Bát Quan Trai hoặc tu các Giới khác, không tạo tội ngũ Nghịch và các điều lỗi lầm rồi đem căn lành ấy hồi hướng cầu sinh về Cực Lạc.
Thủ Ấn là: Hai ngón cái nắm hai đầu ngón trỏ để trước ngực, ngửa bàn tay trái, bàn tay phải úp lên cách 02 tấc.
Chân Ngôn là: OṂ _ AMṚTA-SIDDHE DHARMA HRĪḤ SVĀHĀ
2/. Trung Sinh:
Trung Phẩm Trung Sinh Minh Lực Địa. Chính chắn giữ Bát Quan Trai hoặc Giới Sa Di hay Giới Cụ Túc, Trong một ngày đêm, các uy nghi đều toàn vẹn. Đem Công Đức huân tu Giới Hương đó hồi hướng, cầu sinh về Cực Lạc.
Thủ Ấn là: Ấn như trên nhưng để ở vú.
Chân Ngôn là: OṂ _ AMṚTA-TEJE DHARMA HRĪḤ SVĀHĀ
3/. Hạ Sinh:
Trung Phẩm Hạ Sinh Vô Lậu Địa. Hiếu dưỡng cha mẹ, tu hành nhân từ theo Thế Gian. Khi lâm chung được Thiện Tri Thức giảng cho nghe sự vui nơi cõi Phật A Di Đà và 48 Đại Nguyện của Tỳ Khưu Pháp Tạng. Nghe xong vui vẻ niệm Phật mà qua đời thì Thần Thức sinh về Cực Lạc.
Thủ Ấn là: Giống Ấn như trên nhưng để trước ngực.
Chân Ngôn là: OṂ _ AMṚTA-VIKRĀNTE DHARMA HRĪḤ SVĀHĀ
III- HẠ PHẨM:
Dành cho tất cả mọi người khác, ngay cả những kẻ đã phạm tội nặng. Nhưng tuy vậy đã được Phật hóa độ cho về Tịnh Thổ cho dù nếu chỉ một lần từng niệm Danh Hiệu Phật A Di Đà vào lúc lâm chung. Thủ Ấn của Phật A Di Đà khi tiếp dẫn là: ngón cái đặt trên ngón vô danh.
1/. Thượng Sinh:
Hạ Phẩm Thượng Sinh Chân Giác Địa.Chúng sinh ngu tối, tuy không phỉ báng Kinh Đại Phương Đẳng nhưng tạo nhiều Nghiệp ác không biết hổ thẹn. Khi lâm chung gặp Thiện Tri Thức nói cho nghe Danh Đề của 12 loại Kinh Đại Thừa, liền trừ diệt nghiệp ác rất nặng trong một ngàn kiếp. Bậc Thiện Tri Thức lại bảo phải chắp tay niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” Do nhân thành tâm xưng danh hiệu Phật nên tiêu trừ tội trong 50 ức kiếp sinh tử. Thần Thức theo vị Hóa Phật sinh về Cực Lạc.
Thủ Ấn là: Hai cổ tay để tréo nhau, tay phải xoay vào trong, tay trái xoay ra ngoài, hai tay đều để ngón cái trên ngón trỏ, để lên trái tim.
Chân Ngôn là: OṂ _ AMṚTA-VIKRĀNTA GAMINE DHARMA HRĪḤ SVĀHĀ
2/. Trung Sinh:
Hạ Phẩm Trung Sinh Hiền Giác Địa. Chúng sinh ngu tối hủy phạm: Năm Giới, Tám Giới, Cụ Túc Giới, ăn trộm của Tăng Kỳ và vật của Hiện Tiền Tăng, bất tịnh nói Pháp, lòng không hổ thẹn, dùng các Nghiệp ác để tự trang nghiêm nên bị tội đọa Địa Ngục. Khi lâm chung may gặp Thiện Tri Thức nói cho nghe về Uy Đức của Mười Lực, sức thần thông quang minh của Phật A Di Đà với những phương pháp: Giới, Định, Tuệ, Giải Thoát, Giải Thoát Tri Kiến. Nghe xong, lòng tín trọng, niệm trừ diệt tội trong 80 ức kiếp sinh tử khiến cho lửa dữ Địa Ngục hóa thành gió mát thổi các hoa lên Trời, trên hoa có Hóa Phật và Hóa Bồ Tát tiếp dẫn về Cực Lạc.
Thủ Ấn là: Giống như Ấn trên, chỉ đem ngón cái nắm ngón giữa
Chân Ngôn là: OṂ _AMṚTA GAGANA KĪRTTI KARE DHARMA HRĪḤ SVĀHĀ
3/. Hạ Sinh:
Hạ Phẩm Hạ Sinh Lạc (vui vẻ) Môn Địa. Chúng sinh tạo tội: Ngũ Nghịch , Mười Ác, làm các việc chẳng lành đáng bị đọa vào Địa Ngục. Khi lâm chung, gặp Thiện Tri Thức dùng nhiều phương cách an ủi, nói Pháp mầu nhiệm lại dạy bảo tưởng niệm Phật. Nghe xong, vì khổ áp bức nên không thể quán tưởng. Khi đó Thiện Tri Thức lại dạy chí thành xưng “Nam Mô A Di Đà Phật” liên tiếp trong Mười niệm, nhờ nhất niệm trừ tội trong 80 ức kiếp sinh tử cho nên khi chết, thấy hoa sen vàng rực hiện ra trước mắt, liền nhất niệm sinh về Cực Lạc.
Thủ Ấn là: Giống như Ấn trên, chỉ đem ngón cái vịn ngón vô danh.
Chân Ngôn là: OṂ _ AMṚTA-DUṆḌUBHISVARE DHARMA HRĪḤ SVĀHĀ
Chân Ngôn dùng chung cho cả Chín Ấn của chín phẩm trên là:
OṂ _ AMṚTA SVĀHĀ (A Di Đà Tâm Chú).HET=NAM MO A DI DA PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.10/12/2016.
No comments:
Post a Comment