Sunday, 18 December 2016

2. TÁN KINH (phân làm hai phần) 

1. Tổng tán: Khen chung cả bổn kinh.
2. Biệt tán: Khen riêng pháp trì danh.
TỔNG TÁN
      Chánh Văn: Lóng đục thành trong, trở trái làm mặt, vượt khỏi ba kỳ trong một niệm; bằng các thánh nơi chút lời, rất mầu thay chỗ diệu dụng… cũng không thể nghĩ bàn đặng, duy có kinh A Di Đà mà đức Phật Thích Ca ngài nói đây thôi.

      Chú Giải: Như trên đã nói: "Thể linh minh trạm tịch" vốn không thanh, trược, mặt, trái, rốt ráo bình đẳng, duy là "Nhứt tâm".

      Nay so về môn sanh diệt để nói: Bởi sự nhận thức của mọi người chẳng đúng với "Tánh thật biết" vẫn một cái chân như, vì nó không phân biệt nên tâm bất giác khởi ra vọng chấp trước; thế rồi bị vô minh che lấp, bỏ mất cội gốc là tánh chơn như, trôi lăn theo ngọn ngành là tâm sanh diệt; khuấy loạn cái Chơn Thể nên gọi là "Trược"; như lóng bùn cát làm cho trong sạch lại thời gọi là "Thanh", tức là chỉ chuyển cõi Ta Bà ngũ trược này trở thành cõi Tịnh Độ là nước Thanh Thới vậy.

      Bị vô minh kéo dắt, bỏ tánh giác, theo vọng trần, trái xa chơn thể gọi là "Bối". Bây giờ quày bỏ đường tới, trở lại lui về, thế gọi là "Hướng". Tức chỉ xây lưng cõi Ta Bà để trở mặt về nước Cực Lạc vậy.

      Song đây là chỉ ngay trong một thời kỳ chúng sanh từ khi mê đặng ngộ mà nói thì dường như có những sự lóng đục thành trong, trở trái làm mặt, chớ kỳ thật ở nơi "tự tánh" thì không đắc, không thất, cũng không thêm không bớt; thế nên khi đục, lúc trong mà tánh nước không đổi khác; bỗng sau thoạt trước mà người chẳng hai thân. Nên có câu: "Tu chứng tức chẳng không; nhưng nhiễm ô thời chẳng đặng chứng".

      Ba kỳ là ba kiếp lớn A Tăng Kỳ; chữ "Tăng Kỳ" sẽ thấy giải ở văn sau. Nói "ba kỳ" là:

      A) Căn cứ theo lịch sử do Đức Thích Ca thành đạo thì từ cổ Phật Thích Ca đến Đức Phật Thi Khí, trải qua bảy muôn năm ngàn đức Phật;

      B) Từ Đức Phật Thi Khí đến Đức Phật Nhiên Đăng, trải qua bảy muôn sáu ngàn vị Phật;

      C) Từ Đức Phật Nhiên Đăng đến Đức Phật Tỳ Bà Thi, trải qua bảy muôn bảy ngàn Đức Phật nên nói ba kỳ.

      Trải đủ nhiều kiếp lâu xa càng lâu xa để hành Bồ Tát Đạo mới siêu sanh tử, mà nay không vượt ra ngoài một niệm mau khỏi đường sanh tử. Một niệm là gì? Tức tâm năng niệm của ta niệm Phật A Di Đà đây vậy.

      Chữ "Thánh" là Phật và Bồ Tát. Từ địa vị phàm phu trông lên bực Thánh, cách lại càng cách, thế mà nay không ngoài chút lời được tiến lên ngay bực "Thánh Bất Thối"; chút lời là chút lời sở niệm danh hiệu Phật A Di Đà đây vậy.

      Tột thay!... Hai câu là lời khen ngợi. Chữ "Chí" nghĩa là "tột", ý nói rộng lớn tột bực không chi hơn đặng.

      Chữ "Diệu" là nghĩa bốn câu trên chung gọi là "Diệu Nghĩa".

      Dụng là "Lực Dụng". Luận rằng tâm nhơ khó sạch, vẩn đục như sông Huỳnh (13), vọng tưởng khó thâu, dong ruổi dường ý ngựa. Bởi trải nhiều kiếp như hằng sa vô số lượng mãi luân hồi không thôi, dầu đọc hết văn trong ba tạng 12 bộ kinh mà đường giác càng xa. Nay có thể làm cho đục thành trong, trái nên mặt, một niệm mau siêu, chút lời liền chứng, lực dụng nhiệm mầu đến thế, đâu nghĩ bàn được. Dụng từ thể tướng sanh ra, nên chỉ nói diệu dụng mà gồm cả.

      Câu rốt sau là kết về tự tánh, ý nói chỗ diệu dụng như thế sẽ sánh với kinh nào? Chỉ có kinh A Di Đà của Phật Thích Ca đây mới đủ dùng để so sánh.

      Hoặc có người hỏi: Không luận kinh Tiểu Thừa, chỉ như các kinh Đại Thừa chất nhiều như núi, vì sao riêng khen diệu dụng của kinh này?

      Đáp: Trong tạng Kinh tuy có đủ nghĩa đây, nhưng chưa có kinh nào rõ ràng và giản dị như kinh này, cho nên xứng tánh mà luận, chánh trực mà nói thì đâu chẳng phải là Viên Đốn giáo; (14) nhưng với cái điều "Lóng đục… trở trái…" thì Viên Đốn kia chưa bày tỏ ra cách phương tiện ấy. Còn các pháp môn khác: hoặc có pháp quá rộng hơi khó giữ gìn, hoặc quá sâu xa khó dò nổi. Nay chỉ dùng chút lời bằng niệm danh hiệu Phật liền chứng nhập nhứt tâm, đã được vãng sanh, tiến ngay đến chỗ thành Phật, thế thì chính nơi phương tiện mà thành pháp Viên Đốn vậy. Thần công, thắng lực ấy không thâu về kinh này, chớ về kinh nào?

      Lại văn trước là "Tánh đức", văn đây là "Tu đức", văn trước là "Tự tánh" sẵn thanh tịnh, văn đây là "Ly cấu" mới được thanh tịnh, nhẫn đến tánh tịnh, chướng hết v.v… hòa lẫn nhau như một không hai, như trong phần sau sẽ nói.

 
BIỆT TÁN (phân ra làm bốn phần)

 

      1. Tiên xuất thuyết kinh sở dĩ: Trước chỉ lý do nói kinh.
      2. Thống luận Tịnh Độ công đức: Gồm bàn công đức Tịnh Độ.
      3. Đặc thị trì danh vi yếu: Chỉ có trì danh là hơn.
      4. Quảng hiển trì danh sở bị: Rõ nhờ trì danh rất rộng.

      TIÊN XUẤT THUYẾT KINH SỞ DĨ

      Chánh Văn: Thế nên đức Thế Tôn ta trước nói ra ba thừa sau hội về nhứt thật, đã đồng phần cho của báu, lại còn đặc biệt ban ơn mầu.

      Chú Giải: Nương văn trên nói: Kinh này có đủ công đức, không thể nghĩ bàn như thế: thành thử Phật nói kinh này là vì có lẽ đó.

      Chữ "Sạ" là Tạm. Nghĩa là: Tạm thời quyền nói, chớ chưa phải nói đến chỗ cứu cánh.

      Tam Thừa là: thừa vốn không ba, quyền nói có ba là: Thinh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát.

      Chung là đối với Tạm mà nói. Thật là để đối với quyền mà nói nghĩa là đức Thế Tôn ta khi mới thành ngôi Chánh Giác, diễn nói kinh Đại Hoa Nghiêm, nhưng giáo lớn khó thích hạp với căn cơ nhỏ nên Phật tùy căn cơ của chúng sanh, mà Ngài nói pháp Tam Thừa, sau rốt mới hội "Quyền" về "Thật", đồng ban trao pháp Đại Thừa, cho nên nói "đồng phần cho của báu". Đây là chỗ đại khái cả 5 thời giáo (15) của Như Lai nói trong một đời 49 năm. Nhưng trong ấy lại đưa ra một môn niệm Phật: Môn này không luận kẻ đại căn, người tiểu cơ, hễ ai niệm Phật là liền được vãng sanh. Cũng không đợi đến lúc căn cơ thuần thục mới hội Quyền về Thật, miễn được vãng sanh liền đặng bực Bất Thối. Dụ như: Người được tiến cử vào chức vị mà chẳng cần phải do nơi phẩm trật (thi đậu bằng cấp) và kẻ con nhà thừa ấm (16) sẵn bực lớp, nhứt định làm quan. Vì ơn trên ban ra bằng một cách phi thường, nên gọi là ơn đặc biệt, cũng như lạ lùng. Lại ân mầu ấy gồm có 2 nghĩa:

      1. Pháp niệm Phật là trong ân mầu.
      2. Pháp trì danh niệm Phật lại là ân mầu trong ân mầu.

      THỐNG LUẬN TỊNH ĐỘ CÔNG ĐỨC

      Chánh Văn: Đức Thế Tôn chỉ ra 48 lời nguyện và mở dạy 16 pháp quán: Nguyện nào cũng quy về pháp phổ độ, Quán nào cũng chú trọng về lý diệu tâm.

      Chú Giải: Văn trên khen pháp môn Tịnh Độ rất thù thắng: văn đây đối với pháp môn Tịnh Độ, trước nêu các kinh, sau đem so sánh với kinh này thì kinh này lại là thù thắng hơn. "48 nguyện và 16 pháp quán đã chép đủ trong hai kinh" là ý nói từ nguyện đầu đến nguyện rốt sau, nguyện nào cũng đều tiếp dẫn chúng sanh đồng sanh về cõi Tịnh Độ. Từ quán đầu cho đến quán cuối cùng, quán nào cũng đều là quán không, quán giả và quán trung đạo (17) để rõ tột lý nhứt tâm. Do nhứt tâm đây phát sinh ra đại nguyện, nương đại nguyện mà thành ngôi chánh giác, rồi dùng bản nguyện ấy trở lại độ chúng sanh để đồng chứng lý nhất tâm.

      Đối pháp môn Tịnh Độ, so sánh cả hai kinh (Đại Bổn và Quán kinh) ý gồm như thế.

      ĐẶC THỊ TRÌ DANH VI YẾU (phân ra làm hai phần)

      1. Giảo luận yếu ước: So sánh về chỗ cốt yếu.
      2. Cứu minh lợi ích: Xét rõ điều lợi ích.

      GIẢO LUẬN YẾU ƯỚC

      Chánh Văn: Lại dùng nguyện môn rộng lớn, quí nhứt là tại chỗ biết trước; với pháp quán sâu mầu chi bằng giữ lấy chỗ dón: Biết trước là chuyên cầu về nước kia. Giữ chỗ dón là duy cần sự trì danh. Vì hễ niệm danh hiệu Phật thì đã gồm đủ các đức tốt; còn chuyên trì danh, cũng tóm thâu được muôn hạnh mầu.

      Chú Giải: Chính nơi văn trước so sánh kinh Đại Bổn, Quán kinh mà luận thì biết pháp trì danh rất là ngắn gọn. Nói "rộng lớn" là 48 lời nguyện bao trùm cả kẻ u, người hiển, gồm hết bực thánh, hạng phàm, rộng lớn thênh thang, xa khơi không bờ mé; pháp môn man mác như thế, muốn vào quyết có chỗ dò lần, nên chi quí ở chỗ biết trước. Trong Truyện nói: "Biết chỗ trước sau thời mới gần đạo vậy". (18)

      Nói "sâu mầu" là: Vì quán môn chia ra làm 16 pháp, sự tu không phải một; vả lại diệu quán rất tinh vi, kẻ sơ tâm khó xét thấu. Nếu cẩn thận ắt đặng lý mầu nên phải giữ chỗ yếu trước. Ông Kha Tử đã nói: "Giữ chỗ yếu trước mà làm ra việc to rộng là đạo hay vậy". (19)

      Thế nào là "biết trước"? Do biết sanh về nước kia, gần gũi phụng sự đức Như Lai đại nguyện như thế, ngõ hầu khá trông mong, miễn được thấy Phật Di Đà lo gì chẳng tỏ ngộ. Thế nên nói sự cầu nguyện vãng sanh là việc làm cần kíp trước hết.

      Thế nào là giữ chỗ yếu trước? Bởi do pháp quán tuy là 16, nhưng chỉ nói đến một chữ Phật là đủ. Phật tuy rất tột, duy nhứt tâm tức là đó (là Phật). Nay nghe tên Phật, nhứt tâm chấp trì, chính rằng rất dón dễ không tốn công nhiều, vì muôn pháp chỉ duy tâm, hễ tâm đã thanh tịnh thì việc nào lại không xong; vận lòng quán tưởng trong một sát na mà nào y báo, nào chánh báo đều được rõ ràng, hễ móng niệm muốn vãng sanh liền được sanh về nước kia. Thế là với pháp quán khó thành, ta chẳng tu tập mà thành. Cho nên pháp "trì danh niệm Phật" để làm chỗ giữ tu rất là yếu ước vậy.

      Ngài Thiên Như đã nói: "Lòng Phật Thích Ca quá thương, khuyên chúng sanh niệm ngay danh hiệu Phật A Di Đà ấy vậy".

      Nói "niệm danh hiệu" là: Phật có vô lượng phước đức, nay chỉ niệm có bốn chữ danh hiệu là A Di Đà Phật cũng đủ bao trùm hết cả, do vì đức Phật A Di Đà tức là toàn thể của nhứt tâm mà tâm nó gồm cả các đức nào Thường, Lạc, Ngã, Tịnh, Bổn giác, Thỉ giác (20), Chơn Như, Phật Tánh, Bồ Đề, Niết Bàn, cho đến trăm ngàn vạn tên, đều chỉ trong một tên Phật A Di Đà đây, thâu gồm được tất cả.

      Nói "chuyên trì" là: chúng sanh học Phật cũng có vô lượng pháp tu hành; nay chỉ một pháp trì danh đủ dùng gồm ráo. Bởi vì trì danh hiệu Phật, tức là trì lấy nhứt tâm mà tâm đây nó gồm hết trăm hạnh như: Tứ Đế, Lục Độ, cho đến tám muôn bốn ngàn số hằng sa số vi trần, tất cả hạnh môn, tâm thâu nhiếp được hết, nên gọi là "giữ chỗ yếu ước".

      CỨU MINH LỢI ÍCH (phân ra làm ba phần)

      1. Nhơn thành (Thành cái nhơn niệm Phật)
      2. Quả chứng (Chứng cái quả niệm Phật)
      3. Tổng kết (Chung kết nhơn quả tốt)

      NHƠN THÀNH

      Chánh Văn: Tu đến đây muôn niệm lự (vọng niệm) đều thôi. Xét tột, nhơn được vậy là bởi nhứt tâm bất loạn.

      Chú Giải: Trước khi chưa tu pháp "niệm Phật" thì trong ý thức niệm nào niệm ấy toàn là niệm theo trần lao (tức là niệm chúng sanh), gọi rằng trong một sát na có đến chín trăm cái niệm sanh và diệt; cứ trong mỗi một niệm lại có bốn giai đoạn là: Sanh, Trụ, Dị, Diệt. Như thế phân tích ra từ số, từ mục thì nó nhiều đến bằng những con số vô lượng vô biên. Ví dầu dùng con mắt bằng "thiên nhãn thông" đi nữa cũng không thể dòm cho thấu hết số niệm trần lao ấy! Nên gọi là "muôn niệm lự" vậy. Những muôn niệm lự đây hễ niệm trước diệt thì niệm sau sanh, thoạt đi thoạt lại, dùng trăm kế trừ đó, nhưng rốt cục không thể trừ được.

      Thế mà nay nhờ sức trì danh, chánh niệm vừa dấy lên thì tạp tưởng tự nhiên trừ hết. Dụ như sư tử ra khỏi hang, trăm loài đều ẩn nép. Ánh mặt trời chiếu sương, ngàn rừng mất tuyết trắng, gọi là muôn vọng niệm đều thôi.

      Thế nên ngài Vĩnh Minh nói: "Có người tu pháp quán sổ tức (21) vọng tưởng không thôi; tu pháp niệm danh hiệu Phật liền được tiêu vọng tưởng". Nghiệm xét cả hai thì nhờ pháp niệm Phật đây mà niệm tư lự thôi dứt lại càng thôi dứt, cùng nguồn tột gốc; nên nói rằng "xét tột". Đến chừng được "nhứt tâm bất loạn" tức là thành tựu cái nhơn tu pháp "niệm Phật tam muội".

      QUẢ CHỨNG

      Chánh Văn: Mới biết chưa bước lìa ngạch cửa mà ao báu hoa nở bốn màu, chẳng ra khỏi ngõ sân mà đất vàng cây ngọc quanh bảy lớp, chỗ đức Di Đà thuyết pháp giờ hoa sen nở hóa sanh, chim quý với chim thường rập tiếng, nhà tranh cùng nhà ngọc chung màu.

      Chú Giải: Bất luận ở đâu, người tu pháp niệm Phật mà đã được nhứt tâm bất loạn mới biết từ bảo thọ, liên hoa, cho đến cả y báo, mỗi mỗi món trang nghiêm kỳ diệu đều không phải là cảnh ngoài tâm, tức là "tâm tịnh, độ tịnh", thế hà tất phải đợi tai nghe lời vàng mới là Phật Di Đà thuyết pháp? Cõi Ta Bà ấn hoại mới gọi là Tịnh Độ văn thành hay sao? Thế thì chim quí, chim thường, nhà ngọc, nhà tranh (22) có gì hơn, có gì kém, có chi tịnh, có chi uế? Nên nói: Cảnh Tây phương Tịnh Độ ở ngay trước mắt là thế.

      TỔNG KẾT

      Chánh Văn: Số là, với cái niệm mà không là chơn niệm; với việc sanh mà hiểu vào vô sanh. Bởi niệm danh hiệu Phật tức là niệm tâm ta, còn sanh nước kia không lìa sanh cõi đây. Vì rằng tâm, Phật và chúng sanh tuy ba mà vẫn đồng một thể; giữa dòng và hai bên đều không nhứt định ở một chỗ nào nên gọi: tự tánh giác là Phật Di Đà, duy tâm tịnh là cõi tịnh độ.

      Chú Giải: Tiếp văn trên nói: Cái lẽ mà được nhơn tốt quả mầu như thế là phần chính do tu pháp trì danh niệm Phật đến chỗ nhứt tâm, niệm tột thành không niệm, niệm mà không niệm mới là chơn niệm. Lại cái thể niệm vốn không, niệm thật không niệm, gọi là chơn niệm vậy.

      Câu "sanh vô sanh" là: Vì rõ thể sanh không có thì sanh mà không sanh, không sanh mà sanh, thế gọi là dùng tâm niệm Phật chứng nhập bực nhẫn vô sanh (23), nhưng trong bài "Giáo Khởi" văn sau có nói rành. Nên biết trọn ngày niệm Phật chính là trọn ngày niệm tâm, rõ ràng vãng sanh, nhưng lặng trang không có gì lai vãng.

      Câu "Tâm, Phật và chúng sanh" đó, kinh nói: "Tâm và Phật cùng chúng sanh, cả ba không sai khác". Bởi vì tâm niệm Phật tức là Phật A Di Đà, Phật A Di Đà tức là tánh Phật của chúng sanh, vì đồng một bản thể Biến Chánh Giác nên chi chúng sanh trong tâm của chư Phật trở lại niệm lấy chư Phật trong tâm của chúng sanh. Nếu "mê" phải cầu "Giác" mà giác thì vẫn đồng nhau, nên nói đồng một thể.

      Câu: "Giữa dòng và hai bên" là cõi Ta Bà dụ ở bên này, cõi Cực Lạc dụ ở bên kia. Ban đầu nhàm khổ ưa vui; rồi đến cái chấp phân biệt khổ vui đều mất, sau rốt cũng không trụ nơi phi khổ, phi vui, thế là hai bên đã không chấp trước, chặng giữa lại cũng không để lòng. Tự tánh sẵn có đức Phật A Di Đà, duy tâm sẵn có cõi Tịnh Độ, ý cũng như đây. Thế thời pháp Thiền và pháp Tịnh Độ, cả hai tuy khác lối tu, nhưng đồng về một chỗ là "tánh" vì không lìa tự tâm, mà tự tâm tức là Phật, tức là Thiền.

      Vậy ai kia chấp Thiền chê Tịnh Độ, chính là tự chê bổn tâm của mình, cũng là chê Phật và chê pháp Thiền của mình đương tu nữa mà họ cũng chẳng biết, tự nghĩ xét đó thôi!

      QUẢNG HIỂN TRÌ DANH SỞ BỊ

      Chánh Văn: "Lý nhứt tâm" đây, dù nó trọn phần về bực thượng trí, nhưng nó cũng thông cả "sự, tướng" phần nào. Vì chiều theo cho hiệp với kẻ độn căn (căn cơ chậm lụt cũng như tối dạ).

      Chú Giải: Với "Lý nhứt tâm, Sự nhứt tâm" sẽ thấy rõ ở văn sau. Nay nói "tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh Độ" chính là chỉ ngay về "Lý nhứt tâm bất loạn" trong kinh này nói thôi. Bực thượng trí có thể vâng tu, kẻ độn căn chưa kham lãnh nổi. Nên nói "nhứt tâm" đây, không những chuyên chú về Lý mà cũng thông đồng đến Sự nữa vì với "Sự nhứt tâm" ai cũng làm được, chính như: Kẻ ngu phu, ngu phụ (24) dù là bất tiếu, chớ cũng có thể tham dự biết được, làm được. Vì pháp trì danh niệm Phật này ví như trời khắp che, đất khắp chở, trong bầu đại tạo (vũ trụ) không bỏ một vật nào.HET=NAM MO A DI DA PHAT.( 3 LAN ).NIEM PHAT DUONG KIM LIEN.THICH NU GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.19/12/2016.

No comments:

Post a Comment