1. Quí kỷ bất đức (thẹn mình chẳng có đức tài gì)
2. Minh kỷ sở thượng (tỏ chỗ mình quí chuộng)
3. Nguyên kỷ thích kinh (xét chỗ mình giải kinh này)
2. Minh kỷ sở thượng (tỏ chỗ mình quí chuộng)
3. Nguyên kỷ thích kinh (xét chỗ mình giải kinh này)
Chánh Văn: Chu Hoằng này đã là kẻ hạ phàm, lại nhằm đời mạt pháp, chỗ xuất thân hẹp hòi hẻo lánh, bề học thức cạn cợt muộn màng, chẳng thông lý nhiệm, vốn hổ lời xuông, bánh vẽ ích chi cho bụng kẻ đói, đá yên thạch khó dối mắt người cổ hồ (người thạo nghề buôn).
Chú Giải: Văn trước nói niệm Phật được lợi ích như thế, không niệm Phật mắc hại như thế, nên thuật lại ý mình chỉ trọng pháp niệm Phật. Văn đây, trước lấy độn căn để tự xét cũng như tự phê bình. "Mạt pháp" là pháp rốt, một thời sau hai thời chánh pháp và tượng pháp (33) là than mình sanh nhằm thời kỳ không có Phật. "Hạ phàm" là báo thân không tốt.
"Hẹp hòi" là chỗ thấy không rộng. "Học muộn" là: Trí hiểu không được sâu. Với sự còn chưa hiểu, huống nữa biết lý? Nghĩa là: Lời nói không đủ để làm cho người tin vậy.
"Vốn hổ" là: Vì tự biết mình thấp cạn, hổ thẹn với lời nói suông, nghĩa là: hổ lời nói đi quá việc làm (34).
"Bánh vẽ": Dễ hiểu, dụ như lời nói suông.
"Đá yên": Là thứ đá giống như ngọc, mà không phải ngọc.
"Cổ hồ" là: Người buôn bán bên nước Tây Vức, khéo biết rành các thứ ngọc báu. Thưở xưa có người lượm được viên yên thạch, tự cho là ngọc Du Cẩn, rồi làm bộ kiêu dóc để dối loè mắt người, mong đặng giá cao. Hôm nọ đem tán tỉnh (khoe) với người Cổ Hồ. Hồ nói: Đây chỉ là
đá chớ không phải ngọc đâu anh ạ! Người kia lấy làm xẻn lẻn rút lui. Dụ như đối với đạo chỗ thấy còn hẹp hòi, mơ hồ không thật, chỉ làm trò cười trước mắt tinh đời của người thiện tri thức (35).
Chú Giải: Văn trước nói niệm Phật được lợi ích như thế, không niệm Phật mắc hại như thế, nên thuật lại ý mình chỉ trọng pháp niệm Phật. Văn đây, trước lấy độn căn để tự xét cũng như tự phê bình. "Mạt pháp" là pháp rốt, một thời sau hai thời chánh pháp và tượng pháp (33) là than mình sanh nhằm thời kỳ không có Phật. "Hạ phàm" là báo thân không tốt.
"Hẹp hòi" là chỗ thấy không rộng. "Học muộn" là: Trí hiểu không được sâu. Với sự còn chưa hiểu, huống nữa biết lý? Nghĩa là: Lời nói không đủ để làm cho người tin vậy.
"Vốn hổ" là: Vì tự biết mình thấp cạn, hổ thẹn với lời nói suông, nghĩa là: hổ lời nói đi quá việc làm (34).
"Bánh vẽ": Dễ hiểu, dụ như lời nói suông.
"Đá yên": Là thứ đá giống như ngọc, mà không phải ngọc.
"Cổ hồ" là: Người buôn bán bên nước Tây Vức, khéo biết rành các thứ ngọc báu. Thưở xưa có người lượm được viên yên thạch, tự cho là ngọc Du Cẩn, rồi làm bộ kiêu dóc để dối loè mắt người, mong đặng giá cao. Hôm nọ đem tán tỉnh (khoe) với người Cổ Hồ. Hồ nói: Đây chỉ là
Chánh Văn: Kính vưng theo lời tiên sắc của Phật, dốc lòng phụng sự kinh này, trông về nước Cực Lạc là quê hương, ngửa mến đức Từ Tôn như cha mẹ.
Chú Giải: Đã tự xét mình độn căn thì với sự làm ắt noi theo bực cổ đức. Chữ "Chi" là Kỉnh. Tiếng ngọc của vua trong đời, lời vàng của Phật ra khỏi đời đều gọi là chữ "Sắc". Dốc lòng phụng sự là phụng sự triệt để. Nước Cực Lạc mà nói là quê hương: Vì cõi Tịnh Độ vắng lặng, chính là chỗ của mỗi người để an thân lập mạng. Mà lại bỏ lìa quê cũ, trôi dạt xứ người, như kẻ du tử lạc loài, duy có một niệm lo trở về với quê cha đất tổ mà thôi.
Đức Từ Tôn mà nói là hỗ thị (nhờ cậy) hay cha mẹ: Vì cha là chỗ nhờ của ta, mẹ là chỗ cậy của ta (36), Phật dùng lòng đại từ, đại bi tiếp dẫn chúng sanh, mang ta bằng thai thánh, nuôi ta bằng sữa pháp. Ngay nơi trong tâm ngoài thân của chúng ta nay đây, đâu chẳng nhờ ơn lực ấy mà
đặng thành lập nên người. Đức cù lao trời cao chẳng tột (37), thế mà ta lại nỡ bỏ gốc sanh thành, như con minh linh dưỡng tử đi theo họ khác (38).
Vậy chỉ phải thật lòng cảm mộ trọn đời (39), hầu hạ đôi bên (40), sớm thăm tối viếng, không nên trái lời (41).
Chú Giải: Đã tự xét mình độn căn thì với sự làm ắt noi theo bực cổ đức. Chữ "Chi" là Kỉnh. Tiếng ngọc của vua trong đời, lời vàng của Phật ra khỏi đời đều gọi là chữ "Sắc". Dốc lòng phụng sự là phụng sự triệt để. Nước Cực Lạc mà nói là quê hương: Vì cõi Tịnh Độ vắng lặng, chính là chỗ của mỗi người để an thân lập mạng. Mà lại bỏ lìa quê cũ, trôi dạt xứ người, như kẻ du tử lạc loài, duy có một niệm lo trở về với quê cha đất tổ mà thôi.
Đức Từ Tôn mà nói là hỗ thị (nhờ cậy) hay cha mẹ: Vì cha là chỗ nhờ của ta, mẹ là chỗ cậy của ta (36), Phật dùng lòng đại từ, đại bi tiếp dẫn chúng sanh, mang ta bằng thai thánh, nuôi ta bằng sữa pháp. Ngay nơi trong tâm ngoài thân của chúng ta nay đây, đâu chẳng nhờ ơn lực ấy mà
Vậy chỉ phải thật lòng cảm mộ trọn đời (39), hầu hạ đôi bên (40), sớm thăm tối viếng, không nên trái lời (41).
Chánh Văn: Vì ôm lòng kiêm lợi, đạo quí chỗ hoằng thông. Tiếc thay các bộ sớ thích của Tổ xưa, ngày nay ít thấy bổn nào còn trọn đủ! Duy có vài tập chú giải còn ấn hành nơi đời, lời tuy thiết mà nghĩa quá hẹp, lý hơi bày nhưng không được rõ. Luận không tột đến chỗ hoằng công, đâu có thể phát khởi tín tâm cho quần chúng?
Vì thế, tôi vội quên chỗ tri kiến hẹp hòi, hết lòng suy nghĩ, gồm thâu bộ loại năm kinh; căn cứ ngay nơi một hạnh Văn Thù hội về ý chỉ mầu nhiệm. Có phần thuộc về kinh Tạp Hoa; sâu suốt các pháp môn, thời rộng gồm cả các bộ; không một bộ nào mà chẳng tiêu dung về tự tánh. Nhưng có nguyện nào cũng hồi hướng về quả Bồ Đề. Con nay tỏ chút lòng thành, cúi mong chư Phật gia hộ.
Chú Giải: Chưa chi làm lợi cho mình mà có thể lợi cho người trước hơn là Bồ Tát phát tâm, hành đạo, nên chẳng nỡ chỉ lo được yên lành riêng cho một mình là vì lòng mẫn ôm canh cánh lấy cái nghĩa vụ kiêm lợi; mà với cái bổn phận làm việc kiêm lợi đó, tưởng không chi hơn là làm việc hoằng pháp trước nhứt. Nhưng lời chú sớ của kinh này, nay phần nhiều đã lạc mất, xét về trước không còn manh mối! Tuy chỉ còn một hai bổn lưu hành ở đời, nhưng chỉ lược chỗ đại khái, chớ chưa lột hết được ý nghĩa nhiệm mầu.
"Hoằng công" là công đức không thể nghĩ bàn. Vì người mà không biết kinh đây có đủ công đức rộng lớn như thế nên nghi mà không tin; dầu tin cũng không chơn thật. Thế nên bất đắc dĩ, tôi mới làm lời sớ sao này. "Chỗ tri kiến hẹp hòi" là: Chỗ thấy ngoài da Phật Pháp, nói da thứa ở ngoài là chỗ hiểu vào chẳng sâu, dụ như chỗ thấy cạn cợt vậy. Chỗ thấy biết quá nông cạn; đâu dễ gì so lường nghĩa lý sâu mầu của Phật; nhưng vì tâm cứu đời nó quá ư ân cần, bắt hối thúc nên vội quên mình quê hèn dốt nát.
"Lòng suy nghĩ": Tâm là chủ của sự suy nghĩ (42). Vua Nghiêu, vua Thuấn là bực Thánh còn hết lòng suy nghĩ với việc làm, chúng ta là người bực nào khá dễ thường mà
đặng?
Bộ loại: Những bộ chuyên nói về Cực Lạc như kinh "Đại Bổn" v.v… năm kinh. Văn Thù là kinh "Văn Thù Bát Nhã" chuyên nói về pháp xưng danh hiệu "Nhứt hạnh tam muội".
Kinh Tạp Hoa (43) là do kinh Hoa Nghiêm lấy tánh hải làm tông, rõ ràng không phải giáo pháp quyền thiển vậy. Các bộ là dẫn các kinh, luận để chứng cứ, là
để tỏ rằng không phải lời ức kiến (44), rõ như trong hai môn "Nghĩa Lý" và "Bộ Loại" đến trong văn kinh sau có biện.
"Tiêu dung về tự tánh" là: Nói không chuyên về "Sự tướng" vì xét tột chỗ về đến nơi đến chốn thì thảy đều tiêu hóa, dung hội về nơi bản tánh của mình. Bởi vì cả thế gian và xuất thế gian, không một pháp nào lọt ra ngoài tự tâm đặng; y báo, chánh báo (45) nơi cõi Tịnh Độ mỗi mỗi cũng đều là bản giác diệu minh.
Vì như các chiếc bình, xuyến, kiềng, vòng, hình thức của mỗi món đồ tuy khác, nhưng cũng chỉ một chất vàng làm ra. Nước nơi khe, ngòi, sông, suối tuy là mỗi chỗ dù riêng, chứ dòng nào cũng chảy về một biển. Chính nghĩa là: không vật nào chẳng từ pháp giới này lưu xuất, và không vật nào chẳng trở về nơi pháp giới này.
"Hồi hướng Bồ Đề" là: Phàm chỗ tu niệm hành đạo đều nguyện để vãng sanh, gọi là "hồi hướng". Nhưng hướng không phải hướng về đâu khác hơn là chỉ hồi hướng về Tịnh Độ, hồi hướng về Tịnh Độ tức là hồi hướng về tự tánh của mình.
Hai câu rốt sau là nối văn trước, khởi văn sau: Trước khi muốn làm việc lành, ắt cầu chư Phật gia hộ. Bồ Tát còn thế, huống là kẻ phàm phu?
Tinh nghĩa là không hai; Thành là không dối. Cổ đức có nói: "Lòng tinh thành rất tột, sẽ được quỷ thần dẫn giúp" (46) huống chi ngôi Tam Bảo đại từ thương xót chúng sanh cũng như con đỏ, hễ việc làm có lợi ích cho chúng sanh, lòng tinh thành cầu Phật, Phật đâu không gia bị!
Vì thế, tôi vội quên chỗ tri kiến hẹp hòi, hết lòng suy nghĩ, gồm thâu bộ loại năm kinh; căn cứ ngay nơi một hạnh Văn Thù hội về ý chỉ mầu nhiệm. Có phần thuộc về kinh Tạp Hoa; sâu suốt các pháp môn, thời rộng gồm cả các bộ; không một bộ nào mà chẳng tiêu dung về tự tánh. Nhưng có nguyện nào cũng hồi hướng về quả Bồ Đề. Con nay tỏ chút lòng thành, cúi mong chư Phật gia hộ.
Chú Giải: Chưa chi làm lợi cho mình mà có thể lợi cho người trước hơn là Bồ Tát phát tâm, hành đạo, nên chẳng nỡ chỉ lo được yên lành riêng cho một mình là vì lòng mẫn ôm canh cánh lấy cái nghĩa vụ kiêm lợi; mà với cái bổn phận làm việc kiêm lợi đó, tưởng không chi hơn là làm việc hoằng pháp trước nhứt. Nhưng lời chú sớ của kinh này, nay phần nhiều đã lạc mất, xét về trước không còn manh mối! Tuy chỉ còn một hai bổn lưu hành ở đời, nhưng chỉ lược chỗ đại khái, chớ chưa lột hết được ý nghĩa nhiệm mầu.
"Hoằng công" là công đức không thể nghĩ bàn. Vì người mà không biết kinh đây có đủ công đức rộng lớn như thế nên nghi mà không tin; dầu tin cũng không chơn thật. Thế nên bất đắc dĩ, tôi mới làm lời sớ sao này. "Chỗ tri kiến hẹp hòi" là: Chỗ thấy ngoài da Phật Pháp, nói da thứa ở ngoài là chỗ hiểu vào chẳng sâu, dụ như chỗ thấy cạn cợt vậy. Chỗ thấy biết quá nông cạn; đâu dễ gì so lường nghĩa lý sâu mầu của Phật; nhưng vì tâm cứu đời nó quá ư ân cần, bắt hối thúc nên vội quên mình quê hèn dốt nát.
"Lòng suy nghĩ": Tâm là chủ của sự suy nghĩ (42). Vua Nghiêu, vua Thuấn là bực Thánh còn hết lòng suy nghĩ với việc làm, chúng ta là người bực nào khá dễ thường mà
Bộ loại: Những bộ chuyên nói về Cực Lạc như kinh "Đại Bổn" v.v… năm kinh. Văn Thù là kinh "Văn Thù Bát Nhã" chuyên nói về pháp xưng danh hiệu "Nhứt hạnh tam muội".
Kinh Tạp Hoa (43) là do kinh Hoa Nghiêm lấy tánh hải làm tông, rõ ràng không phải giáo pháp quyền thiển vậy. Các bộ là dẫn các kinh, luận để chứng cứ, là
"Tiêu dung về tự tánh" là: Nói không chuyên về "Sự tướng" vì xét tột chỗ về đến nơi đến chốn thì thảy đều tiêu hóa, dung hội về nơi bản tánh của mình. Bởi vì cả thế gian và xuất thế gian, không một pháp nào lọt ra ngoài tự tâm đặng; y báo, chánh báo (45) nơi cõi Tịnh Độ mỗi mỗi cũng đều là bản giác diệu minh.
Vì như các chiếc bình, xuyến, kiềng, vòng, hình thức của mỗi món đồ tuy khác, nhưng cũng chỉ một chất vàng làm ra. Nước nơi khe, ngòi, sông, suối tuy là mỗi chỗ dù riêng, chứ dòng nào cũng chảy về một biển. Chính nghĩa là: không vật nào chẳng từ pháp giới này lưu xuất, và không vật nào chẳng trở về nơi pháp giới này.
"Hồi hướng Bồ Đề" là: Phàm chỗ tu niệm hành đạo đều nguyện để vãng sanh, gọi là "hồi hướng". Nhưng hướng không phải hướng về đâu khác hơn là chỉ hồi hướng về Tịnh Độ, hồi hướng về Tịnh Độ tức là hồi hướng về tự tánh của mình.
Hai câu rốt sau là nối văn trước, khởi văn sau: Trước khi muốn làm việc lành, ắt cầu chư Phật gia hộ. Bồ Tát còn thế, huống là kẻ phàm phu?
Tinh nghĩa là không hai; Thành là không dối. Cổ đức có nói: "Lòng tinh thành rất tột, sẽ được quỷ thần dẫn giúp" (46) huống chi ngôi Tam Bảo đại từ thương xót chúng sanh cũng như con đỏ, hễ việc làm có lợi ích cho chúng sanh, lòng tinh thành cầu Phật, Phật đâu không gia bị!
Chánh Văn: Kính lạy đức Giáo Chủ thuyết pháp cõi Ta Bà, đức Đại Từ Tôn tiếp dẫn cõi Tây phương và kinh "Bất Khả Tư Nghì Phật Hộ", Xá Lợi Phất, Văn Thù cùng các vị Thánh trong hai cõi, sáu phương khắp cõi Phật số vi trần, quá khứ hiện tại và vị lai, các ngôi Tam Bảo vô số tận đều chứng biết. Cúi xin rủ lòng từ bi nhiếp thọ lời cầu của con. Con nay dối đem kiến thức cõi uế độ để so lường tâm thanh tịnh của Phật Như Lai. Ngưỡng vâng sức đại oai thần của ngôi Tam Bảo gia hộ cho kẻ phàm phu được thành thánh trí: khiến mỗi lời của con đều hợp với thánh ý của Phật, đặng lưu thông xa gần, lợi ích cho loài hàm linh, kẻ thấy, người nghe tùy hỷ, đều được vãng sanh, đồng chứng lên quả "Tịnh Quang Vô Thượng Giác".
Chú Giải: Tiếng "Qui Mạng" lệ thường như tiếng ba la mật, là cách nói đảo ngược. Chữ "Qui" có hai nghĩa:
1. Nghĩa "qui đầu", ý nói người đời chỉ có thân mạng là vật rất trọng hơn hết, nay đem cả thân mạng để kính lạy, là một lòng thành kính không hai tâm vậy.
2. Nghĩa "qui nguyên": Ý rằng đem thân và mạng về lạy cầu tức thâu nhiếp cả sáu căn (47) về nơi nhứt tâm.
Đức Thích Ca là giáo chủ cõi Ta Bà, đức A Di Đà là giáo chủ cõi Tây phương, vì do thủ xướng pháp niệm Phật nên lạy đức Thích Ca trước hết. Kẻ làm tôi con mà
được phong chức hầu, còn không quên nơi gốc (48). Phàm phu muốn vào bực Thánh há đặng phụ ơn Phật hay sao? Thuở xưa có người sắp qua đời đốt nén hương, trước cúng dường đức Thích Ca chính là ý đây vậy.
"Giáo chủ thuyết pháp" là: Vì với việc thuyết pháp độ sanh, trong một cõi không thể có hai đức Phật nên gọi là giáo chủ. Nghĩa là: làm chủ một giáo pháp.
Tiếp dẫn là vì chúng sanh nhớ niệm Phật, được Phật duỗi tay tiếp dẫn, dụ như người đi đường, gặp người yếu đuối thì dìu đỡ, người quên đường thì chỉ dẫn. Lại có hai nghĩa: Một là tiếp dẫn lúc sống thì giúp đỡ cho đạo tâm yên tịnh. Hai là tiếp dẫn lúc chết thì dẫn dắt thần hồn vãng sanh.
Đại Từ Tôn: Như mẹ nhớ con gọi là "Từ". Lòng từ không chi hơn gọi là "Đại". Chữ "Tôn" nghĩa như chữ chủ vậy. Lẫn nhau để nói cũng có thể gọi đức Thích Ca là Từ Tôn cõi này, đức Di Đà là giáo chủ cõi kia. Gồm hai đức Như Lai đó gọi là ngôi "Phật Bảo". Kinh này nguyên tên là "Bất Khả Tư Nghì Phật Hộ Niệm" là ngôi "Pháp bảo". Chúng nghe kinh này như Ngài Văn Thù, Ngài Xá Lợi Phất v.v… gọi là ngôi "Tăng bảo".
Nói chữ "Bảo" là lược có sáu nghĩa. 1.- Hiếm có; 2.- Lìa dơ; 3.- Sức quí; 4.- Rỡ đẹp; 5.- Rất tốt; 6.- Chẳng đổi. Trong bộ "Yếu Tập" có nói đủ nghĩa này.
Suy xét cho cùng tột hai cõi: Ta Bà và Cực Lạc, bốn góc trên dưới mười phương, nhẫn đến cõi Phật nhiều như số vi trần khắp tất cả xứ; quá khứ, hiện tại, vị lai và khắp tất cả thời. Trong đó có ngôi Tam Bảo ngang trùm mười phương dọc suốt ba giới, cũng nhiều đến số vô cùng tận.
Lại Tam Bảo cũng chia có sự, có lý, có khác, có đồng như văn sau giải rõ. Nay văn đây nói trong ngoài, mình và người đều nương về ngôi ấy. Bực cổ đức nói: "Sau khi Phật diệt độ phàm các hàng đệ tử có tác thuật kinh luận chi, sách vở gì, đều phải trước kính lễ ngôi Tam Bảo".
Bởi vì cảnh thánh cao mầu, lời Phật kín nhiệm, mà muốn dùng trí mọn của phàm phu để tự tiện so bàn, khác nào lấy ngao lường biển, nương ống dòm trời (49), luống tự nhọc nhằn, phần được không mấy. Thế nên cần phải kính ngôi Tam Bảo, thầm mong gia hộ.
Oai thần đó, như kinh nói: "Phật lực không thể nghĩ bàn, Pháp lực không thể nghĩ bàn, hiền thánh lực không thể nghĩ bàn". Thế nên, nương thần lực của Tam Bảo có thể khiến tâm ngu bỗng thành thánh trí. Miệng phàm thuật lại thầm hiệp được tâm Phật vậy.
Xa gần là gồm cả "Xứ" và "Thời". Xứ là: Từ một góc cho đến cùng khắp mười phương. Thời là: Từ một sát na cho đến tột đời vị lai, đều gọi là từ gần đến xa. Hàm linh, gọi tất cả loài hữu tình vì lựa không phải loài vô tình như cây đá.
"Thấy nghe tùy hỷ" là: Hễ đối kinh đây mà
được mắt thấy, hoặc tai nghe cho đến tạm thời tùy thuận, sanh tâm hoan hỷ là
đã trồng căn lành, sẽ đồng được vãng sanh về nước kia vậy.
Tịch Quang là cõi chơn Tịnh Độ của Như Lai. Người mà
được sanh về nước kia rồi, thấy Phật nghe pháp, giác ngộ được pháp "Vô Sanh Nhẫn", nhận đặng bản tâm của mình; vì thể và dụng của bản tâm ấy Tịch Chiếu không hai nên gọi là "Thường Tịch Quang".
Quả "Vô Thượng Giác" là Phật chứng quả "viên mãn đại giác" vượt khỏi hàng nhị thừa và các vị Bồ Tát. Trên quả đây lại không quả nào cao hơn nữa nên gọi là "Vô Thượng Quả", tức là chứng "Nhứt Thế Chủng Trí" (50) của Phật. Nên trong kinh nói: "Đều đặng bất thối chuyển nơi quả A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề". Thế đủ biết rằng: Miễn đặng vãng sanh thời quyết định thành Phật. Cho nên nói đồng chứng lên quả "Tịch Quang Vô Thượng", cầu xin chư Phật gia bị ý gồm như thế.
Từ trước đến đây là lời "Thông tự đại ý" của một bộ kinh đã xong.HET=NAM MO A DI DA PHAT.( 3 LAN ).NIEM PHAT DUONG KIM LIEN.THICH NU GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.19/12/2016.
Chú Giải: Tiếng "Qui Mạng" lệ thường như tiếng ba la mật, là cách nói đảo ngược. Chữ "Qui" có hai nghĩa:
1. Nghĩa "qui đầu", ý nói người đời chỉ có thân mạng là vật rất trọng hơn hết, nay đem cả thân mạng để kính lạy, là một lòng thành kính không hai tâm vậy.
2. Nghĩa "qui nguyên": Ý rằng đem thân và mạng về lạy cầu tức thâu nhiếp cả sáu căn (47) về nơi nhứt tâm.
Đức Thích Ca là giáo chủ cõi Ta Bà, đức A Di Đà là giáo chủ cõi Tây phương, vì do thủ xướng pháp niệm Phật nên lạy đức Thích Ca trước hết. Kẻ làm tôi con mà
"Giáo chủ thuyết pháp" là: Vì với việc thuyết pháp độ sanh, trong một cõi không thể có hai đức Phật nên gọi là giáo chủ. Nghĩa là: làm chủ một giáo pháp.
Tiếp dẫn là vì chúng sanh nhớ niệm Phật, được Phật duỗi tay tiếp dẫn, dụ như người đi đường, gặp người yếu đuối thì dìu đỡ, người quên đường thì chỉ dẫn. Lại có hai nghĩa: Một là tiếp dẫn lúc sống thì giúp đỡ cho đạo tâm yên tịnh. Hai là tiếp dẫn lúc chết thì dẫn dắt thần hồn vãng sanh.
Đại Từ Tôn: Như mẹ nhớ con gọi là "Từ". Lòng từ không chi hơn gọi là "Đại". Chữ "Tôn" nghĩa như chữ chủ vậy. Lẫn nhau để nói cũng có thể gọi đức Thích Ca là Từ Tôn cõi này, đức Di Đà là giáo chủ cõi kia. Gồm hai đức Như Lai đó gọi là ngôi "Phật Bảo". Kinh này nguyên tên là "Bất Khả Tư Nghì Phật Hộ Niệm" là ngôi "Pháp bảo". Chúng nghe kinh này như Ngài Văn Thù, Ngài Xá Lợi Phất v.v… gọi là ngôi "Tăng bảo".
Nói chữ "Bảo" là lược có sáu nghĩa. 1.- Hiếm có; 2.- Lìa dơ; 3.- Sức quí; 4.- Rỡ đẹp; 5.- Rất tốt; 6.- Chẳng đổi. Trong bộ "Yếu Tập" có nói đủ nghĩa này.
Suy xét cho cùng tột hai cõi: Ta Bà và Cực Lạc, bốn góc trên dưới mười phương, nhẫn đến cõi Phật nhiều như số vi trần khắp tất cả xứ; quá khứ, hiện tại, vị lai và khắp tất cả thời. Trong đó có ngôi Tam Bảo ngang trùm mười phương dọc suốt ba giới, cũng nhiều đến số vô cùng tận.
Lại Tam Bảo cũng chia có sự, có lý, có khác, có đồng như văn sau giải rõ. Nay văn đây nói trong ngoài, mình và người đều nương về ngôi ấy. Bực cổ đức nói: "Sau khi Phật diệt độ phàm các hàng đệ tử có tác thuật kinh luận chi, sách vở gì, đều phải trước kính lễ ngôi Tam Bảo".
Bởi vì cảnh thánh cao mầu, lời Phật kín nhiệm, mà muốn dùng trí mọn của phàm phu để tự tiện so bàn, khác nào lấy ngao lường biển, nương ống dòm trời (49), luống tự nhọc nhằn, phần được không mấy. Thế nên cần phải kính ngôi Tam Bảo, thầm mong gia hộ.
Oai thần đó, như kinh nói: "Phật lực không thể nghĩ bàn, Pháp lực không thể nghĩ bàn, hiền thánh lực không thể nghĩ bàn". Thế nên, nương thần lực của Tam Bảo có thể khiến tâm ngu bỗng thành thánh trí. Miệng phàm thuật lại thầm hiệp được tâm Phật vậy.
Xa gần là gồm cả "Xứ" và "Thời". Xứ là: Từ một góc cho đến cùng khắp mười phương. Thời là: Từ một sát na cho đến tột đời vị lai, đều gọi là từ gần đến xa. Hàm linh, gọi tất cả loài hữu tình vì lựa không phải loài vô tình như cây đá.
"Thấy nghe tùy hỷ" là: Hễ đối kinh đây mà
Tịch Quang là cõi chơn Tịnh Độ của Như Lai. Người mà
Quả "Vô Thượng Giác" là Phật chứng quả "viên mãn đại giác" vượt khỏi hàng nhị thừa và các vị Bồ Tát. Trên quả đây lại không quả nào cao hơn nữa nên gọi là "Vô Thượng Quả", tức là chứng "Nhứt Thế Chủng Trí" (50) của Phật. Nên trong kinh nói: "Đều đặng bất thối chuyển nơi quả A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề". Thế đủ biết rằng: Miễn đặng vãng sanh thời quyết định thành Phật. Cho nên nói đồng chứng lên quả "Tịch Quang Vô Thượng", cầu xin chư Phật gia bị ý gồm như thế.
Từ trước đến đây là lời "Thông tự đại ý" của một bộ kinh đã xong.HET=NAM MO A DI DA PHAT.( 3 LAN ).NIEM PHAT DUONG KIM LIEN.THICH NU GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.19/12/2016.
No comments:
Post a Comment