Đây là một câu chuyện triết lý về cuộc sống nói về nửa cái bánh của một chàng trai nghèo.
Có một người đói bụng đang lang thang trên đường. Có người cho anh ta bảy cái bánh.
Lúc đầu anh ta định ăn bảy cái bánh, nhưng ăn sáu cái rưỡi thì bụng đã no.
Anh ta cố gắng ăn hết nửa cái còn lại thì bụng căng cứng.
Anh tức giận lấy tay này đánh vào tay kia, nói :
– Sao mình ngu đến thế? Nếu biết nửa cái bánh này làm cho mình no cứng như thế này thì ban đầu nên ăn nó trước, bụng đã no, không cần phí sáu cái rưỡi kia. Thật là ngu!HET=NAM MO A DI DA PHAT.( 3 LAN ).NIEM PHAT DUONG KIM LIEN.THICH NU GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.30/12/2016.
Đói khổ suốt đời.
Tỳ-kheo đi khất thực.
Lúc ấy, Phật ở với chư tỳ-kheo gần thành Xá-vệ, trong vườn Kỳ thọ Cấp Cô Độc. Trong thành có một người vợ của người bà-la-môn có thai, sinh ra một đứa con trai hình dung cực xấu, thân thể nhớp nhúa. Khi bú vú mẹ, sữa mẹ liền chua đi, chẳng thể bú được. Khi nhờ người khác cho bú lại cũng như thế. Vì vậy, đành phải lấy bơ với mật trét vào miệng cho trẻ ấy mút cầm hơi mà sống. Nhân đó mới đặt tên là Lê-quân-chi.
Đứa trẻ ấy cũng dần dần lớn lên, nhưng thật là xấu số, chẳng lúc nào được ăn no đủ. Thấy các vị tỳ-kheo đi khất thực được người ta cúng dường thức ăn trong bát, Lê-quân-chi sanh lòng hoan hỷ, nghĩ rằng: “Ta nên đến chỗ Phật mà cầu xuất gia, tất sẽ được ăn no.”
Nghĩ rồi liền đến nơi tinh xá Kỳ Hoàn lạy Phật xin xuất gia. Phật nói: “Lành thay đó, tỳ-kheo!” Tức thì, râu tóc tự nhiên rụng sạch, áo cà-sa hiện ra nơi thân, thành một vị tỳ-kheo oai nghi đầy đủ. Chuyên cần tu tập, chẳng bao lâu đắc quả A-La-hán.
Dù đã chứng quả, nhưng mỗi khi tỳ-kheo Lê-quân-chi đi khất thực vẫn thường đói thiếu. Trong lòng tự hối trách, liền vào trong tháp Phật mà lễ bái, thấy có bụi bặm liền chuyên tâm quét dọn sạch sẽ. Hôm ấy đi khất thực được một bữa ăn no. Trong lòng vui vẻ, liền bạch với tăng chúng rằng: “Từ nay về sau xin cho tôi được lo việc quét dọn tháp Phật. Vì nhờ quét tháp Phật tôi mới có thể khất thực được no lòng.” Tăng chúng nghe vậy cũng đều đồng ý.
Đến một ngày nọ, Lê-quân-chi ngủ mê dậy muộn, đã quá giờ quét dọn mà vẫn còn ngủ. Gặp lúc Xá-lỵ-phất và năm trăm vị đệ tử từ nơi khác đến viếng Phật, thấy trong tháp có bụi bặm liền tiện tay quét dọn sạch sẽ ngay. Lê-quân-chi thức giấc thấy Xá-lỵ-phất đã quét tháp rồi, liền nói rằng: “Ngài quét tháp Phật, ấy là khiến tôi hôm nay phải nhịn đói rồi.” Xá-lỵ-phất hỏi nguyên do, nghe xong liền nói rằng: “Ngài không phải lo, hôm nay có thể cùng đi với tôi vào thành khất thực, chắc được no đủ.”
Lê-quân-chi nghe nói vui mừng, đến giờ khất thực liền ôm bát đi theo Xá-lỵ-phất. Đến nhà đàn việt, ngờ đâu gặp lúc vợ chồng cãi nhau chẳng ai cúng dường, đành ôm bát không mà về.
Ngày thứ hai, đến giờ khất thực Xá-lỵ-phất liền nói rằng: “Hôm nay có người trưởng giả trong thành thỉnh đến cúng dường, ngài nên cùng đi với tôi, chắc được no đủ.” Liền cùng nhau đến đó. Lễ cúng long trọng, người ta dọn thức ăn rất nhiều. Chư tỳ-kheo ngồi thành hàng dài, những người dọn thức ăn đặt từ phía dưới lên, đến chỗ Lê-quân-chi thì vừa hết mất. Những người người dọn từ phía trên xuống, đến chỗ ông lại cũng vừa hết. Vậy là trong chúng hội chỉ mỗi mình ông chẳng có thức ăn. Ông liền lớn tiếng gọi rằng: “Tôi chưa có thức ăn.” Nhưng chẳng hiểu sao chủ nhân chẳng nghe thấy tiếng ông gọi. Đành nhịn đói mà về.
Khi ấy, ngài A-nan nghe kể lại sự việc, sanh lòng thương xót, đến ngày thứ ba liền đến nói với Lê-quân-chi rằng: “Sáng nay tôi được cùng đi với Phật thọ nhận cúng dường, sẽ vì ông mà mang thức ăn về, giúp ông được no đủ.” Nói vậy rồi mới đi.
Ngài A-nan vốn là người đa văn đệ nhất, nghe và nhớ được hết tất cả những kinh Phật thuyết dạy, chưa từng quên mất điều gì. Vậy mà hôm ấy bỗng nhiên quên khuấy mất lời hứa với Lê-quân-chi, thọ thực xong lại ôm bát không mà về!
Đến ngày thứ tư, ngài A-nan lại vì Lê-quân-chi mà nhận thức ăn vào bát mang về. Ngờ đâu nửa đường gặp con chó dữ, chồm lên hất bát đổ hết thức ăn. Đành ôm bát không mà về, Lê-quân-chi phải nhịn đói thêm một hôm nữa.
Ngày thứ năm, ngài Mục-kiền-liên biết chuyện, liền vì Lê-quân-chi mà xin thức ăn mang về, lại gặp con chim Kim-sí cực lớn giật lấy bát mà mang luôn ra ngoài biển. Lại phải nhịn đói thêm ngày nữa.
Ngày thứ sáu, ngài Xá-lỵ-phất liền quyết ý giúp Lê-quân-chi. Xin được thức ăn cẩn thận mang về đến tận cửa phòng rồi, cửa bỗng nhiên đóng chặt. Xá-lỵ-phất liền dùng thần lực mà hiện vào trong phòng, chẳng ngờ nhanh quá nên sẩy tay rơi bát. Ngài lại dùng thần lực mà ngăn giữ, thu hồi nguyên vẹn lại mà đưa cho Lê-quân-chi. Cầm bát thức ăn trên tay, miệng liền dính cứng chẳng mở ra được. Giờ ăn qua rồi, miệng liền tự mở ra được.
Vào ngày thứ bảy, Lê-quân-chi sinh tâm xấu hổ cùng cực, liền ra trước đại chúng vốc cát mà ăn, ăn xong uống nước rồi nhập Niết-bàn.
Chư tỳ-kheo thấy sự việc của Lê-quân-chi thảy đều kinh quái, liền thưa hỏi Phật về nguyên do các nghiệp thiện ác mà tỳ-kheo Lê-quân-chi đã làm. Phật bảo chư tỳ-kheo: “Các ngươi hãy chú tâm lắng nghe, ta sẽ vì các ngươi mà phân biệt giảng nói. Về thuở quá khứ cách đây đã vô số kiếp, xứ Ba-la-nại có vị Phật ra đời hiệu là Đế-tràng, cùng với chư tỳ-kheo đi giáo hóa nhiều nơi.
“Bấy giờ có người trưởng giả tên là Cù-di, thấy Phật với chư tăng thì sanh lòng kính tín, liền thỉnh về nhà mà cúng dường, ngày nào cũng vậy. Một thời gian sau, trưởng giả ấy chết đi. Người vợ tiếp tục cúng dường, nhưng đứa con trai lòng tham lam chẳng thuận việc cúng dường, bố thí, liền ngăn cản mẹ. Người mẹ không nghe, con trai liền lường thức ăn cho mẹ mỗi ngày. Người mẹ lại nhịn một nửa phần ăn của mình, tiếp tục cúng dường Phật với chư tăng.
“Đứa con thấy vậy thì tức lắm, liền nhốt mẹ vào một cái phòng trống, chẳng cho ăn uống gì cả. Cho đến bảy ngày, mẹ đói quá cầu khẩn xin ăn, đứa con đáp rằng: ‘Sao chẳng ăn cát mà uống nước, lại phải theo ta xin ăn?” Nói vậy rồi lại bỏ mà đi mất. Rốt cục, người mẹ đói quá mà chết.
“Người con ấy sau mạng chung liền sanh vào địa ngục A-tỳ, chịu khổ báo qua vô số kiếp. Mãn nghiệp ấy rồi, được sanh làm người lại phải chịu đói khổ như vậy.”
Phật lại dạy rằng: “Người con trai chẳng cho mẹ ăn ngày trước, nay là tỳ-kheo Lê-quân-chi đó. Nhờ phước cúng dường trước đó, nên nay được gặp Phật, xuất gia đắc đạo.”
Các vị tỳ-kheo nghe Phật thuyết nhân duyên này xong thảy đều vui mừng tin nhận.HET=NAM MO A DI DA PHAT.( 3 LAN ).NIEM PHAT DUONG KIM LIEN.THICH NU GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.30/12/2016.
Chuyện thiền sư dựng tích trượng.
Tích trượng Phá U Quan
Một hôm, thiền sư Ba Tiêu Huệ Thanh thượng đường, dựng tích trượng, hỏi mọi người:
– Các ngươi có tích trượng, ta sẽ cho các ngươi tích trượng. Nếu các ngươi không có, ta sẽ đoạt lấy tích trượng của các ngươi!
Nói xong buông trượng, xuống tòa.
Có vị tăng hỏi:
– Thế nào là nước Ba Tiêu (ba tiêu là cây chuối)?
Ba Tiêu Huệ Thanh đáp:
– Đông ấm hạ mát!
Tăng hỏi:
– Cái gì là Xuy Mao kiếm (kiếm bén thổi sợi lông qua, lông đứt lìa)?
Thiền sư đáp:
– Tiến tới ba bước!
Tăng hỏi:
– Người dùng thì thế nào?
Thiền sư đáp:
– Thụt lùi ba bước!
Tăng hỏi:
– Một câu của Hòa thượng vì người nói là thế nào? Thiền sư đáp :
– Chỉ e người không hỏi!
Tăng hỏi:
– Không nói, lại là lúc có người hỏi, là thế nào? Thiền sư đáp:
– Chưa ra khỏi cửa đã vạn dặm đường!
Tăng hỏi:
– Thế nào là tự mình?
Thiền sư đáp:
– Hồ Nam xem bắc đẩu!
Tích trượng tiếng Phạn là Khakhara (Khiết khí la), Khích Khí La, cũng dịch là “Thanh trượng”, “Minh trượng”. “Trí trượng”, “Đức trượng”, “Kim tích trượng”… do khi chống đi phát ra tiếng kêu lích tích, là một trong những pháp khí của Phật giáo.
Tích trượng còn là cờ nêu của thánh hiền. Phần trên dùng thiếc, phần giữa dùng gỗ, phần dưới dùng sừng, ngà, như pháp mà thọ trì, hiện bày được oai nghi, giúp cho sau này chứng được quả vị, mau thành chánh giác.HET=NAM MO A DI DA PHAT.( 3 LAN).NIEM PHAT DUONG KIM LIEN.THICH NU GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.30/12/2016.
Cái thùng nứt.
Mỗi chúng ta đều có những khuyết điểm như cái thùng nứt
Một người gánh nước ở Ấn Độ có hai cái thùng lớn, mỗi cái ông ta móc vào một đầu của đòn gánh và gánh trên vai. Một trong hai cái thùng có một vết rạn nứt, còn thùng kia là một cái thùng hoàn hảo và luôn luôn giữ được nguyên thùng nước khi về đến cuối con đường dài từ dòng suối đến nhà ông chủ. Cái thùng nứt thì chỉ còn lại một nửa thùng nước khi về đến nhà.
Suốt hai năm tròn trôi qua, ngày nào người gánh nước cũng gánh về nhà ông chủ một thùng rưỡi nước.
Và lẽ đương nhiên là cái thùng hoàn hảo lấy làm tự hào về thành quả của nó, nó đã giữ cho nước trong thùng được nguyên vẹn khi về đến nhà. Còn cái thùng bị rạn nứt thì cảm thấy xấu hổ về sự không hoàn thiện của nó, và đau buồn vì nó chỉ có thể làm được một nửa nhiệm vụ mà nó đã được giao phó.
Sau hai năm thấu hiểu về sự thất bại chua xót của mình, một hôm, bên bờ suối, cái thùng nứt đã nói với người gánh nước rằng:
– Tôi lấy làm xấu hổ về bản thân mình, và thật lòng muốn xin lỗi ông.
– Tại sao? Người gánh nước hỏi. Bạn xấu hổ về điều gì?
Cái thùng đáp lại:
– Suốt hai năm qua, mỗi lần ông gánh nước, tôi chỉ có thể mang về nhà vỏn vẹn có nửa thùng nước, bởi vì vết rạn nứt bên hông của tôi đã làm cho nước rò rỉ ra bên ngoài trên suốt con đường về nhà ông chủ. Bởi vì những vết nứt của tôi mà ông không gặt hái được thành quả tương xứng so với sự nỗ lực của ông.
Người gánh nước cảm thấy thương cho cái thùng cũ đã bị rạn nứt, và với tấm lòng thương yêu của mình, ông nói:
– Khi chúng ta quay trở về nhà ông chủ, tôi muốn bạn để ý đến những bông hoa xinh xắn dọc đường.
Thật vậy, khi họ leo lên ngọn đồi, cái thùng nứt đã chú ý đến những bông hoa dại xinh xắn đang được mặt trời sưởi ấm bên lề đường. Và điều này ít nhiều đã làm cho nó vui lên. Nhưng đến cuối con đường, nó vẫn cảm thấy hổ thẹn vì nó đã bị rò rĩ ra ngoài hết một nửa thùng nước. Và nó lại xin lỗi người gánh nước về sự thất bại của nó một lần nữa.
Người gánh nước đã nói với cái thùng rằng:
– Bạn đã không để ý là những bông hoa chỉ có ở bên phần đường của bạn, còn bên phần đường của cái thùng kia thì không có hay sao? Đấy là vì tôi đã luôn biết rõ về sự rạn nứt của bạn, và tôi đã biết tận dụng sự lợi ích từ nó. Tôi đã trồng những hạt giống của hoa bên phần đường của bạn, và mỗi ngày trong khi chúng ta trở về nhà từ dòng suối, bạn đã tưới cho chúng. Suốt hai năm tôi đã hái những bông hoa xinh đẹp này để trang trí cho cái bàn trong nhà ông chủ. Nếu không có vết rạn nứt của bạn, ông chủ đã không thể nào có được sự xinh đẹp ấy để tô điểm cho căn nhà của ông.
Mỗi một chúng ta đều có những khuyết điểm của riêng mình. Tất cả chúng ta đều là những cái thùng bị rạn nứt. Nhưng những vết rạn nứt, những khuyết điểm ấy một khi biết vận dụng thích hợp thì chúng làm cho cuộc sống của chúng ta thêm thú vị và có ý nghĩa hơn. Chúng ta hãy nhìn mọi người đúng thật như họ đang hiện hữu, và hãy nhìn vào những điểm tốt ở nơi họ.HET=NAM MO A DI DA PHAT.( 3 LAN ).NIEM PHAT DUONG KIM LIEN.THICH NU GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.30/12/2016.
Pháp môn vô sai biệt.
Pháp môn niệm Phật vô sai biệt trong giáo pháp của Phật tổ
Đức Thiều nói với chúng tăng rằng:
– Cổ nhân nói thiền là gì? Là tam giới mênh mông. Đạo là gì? Là mười phương rộng lớn. Tại sao nói tam giới mênh mông, mười phương rộng lớn? Các ngươi muốn lĩnh hội không? Vậy thì hãy bịt chặt mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý lại, không cho có kẻ hở nào cả. Phải lĩnh hội thế nào? Đi ngang không được, dựng đứng không được, buông xuống không được, nắm lên không được, cũng không có chỗ dùng, cũng không có chỗ bỏ. Nếu lĩnh hội được như thế thì mới hiểu được pháp môn vô sai biệt, mới có thể thoát khỏi ngôn từ.
Có vị tăng hỏi:
– Muốn vào biển vô vi phải đi bằng thuyền bát nhã. Thế nào là thuyền bát nhã ?
Đức Thiều đáp:
– Không nương dựa vào bất cứ đâu! Tăng hỏi:
– Thế nào là biển vô vi?
Thiền sư đáp:
– Ngươi trước tiên nên lĩnh hội thuyền bát nhã!
Tăng hỏi:
– Leo lên trời không cần thang, khắp mặt đất không có đường đi. Thế nào là lên trời không cần thang?
Thiền sư đáp:
– Không lưu lại một hạt bụi đất nhỏ!
Tăng hỏi:
– Thế nào là khắp mặt đất không có đường đi?
Thiền sư hỏi lại:
– Vừa lúc nãy ta nói với ngươi những gì? Vô số pháp môn tam muội, vô số pháp môn thần thông, vô số pháp môn diệu dụng, đều không ra khỏi biển bát nhã. Vì sao thế? Vì tất cả vạn sự vạn vật đều được tạo dựng dựa trên bản tính vô trụ. Vì thế nói sanh và diệt, đến và đi, tốt và xấu, thiện và ác… đều là các pháp đại định của chư Phật. Nói tóm một câu: chỉ là như vậy!
Có vị tăng hỏi:
– Khi không hỏi không đáp thì thế nào?
Thiền sư đáp:
– Ngươi nói lời chiêm bao gì thế?
Tăng hỏi:
– Khi Ngưu Đầu chưa gặp Tứ Tổ thì thế nào?
Thiền sư đáp:
– Trời xanh, nước biếc!
Tăng lại hỏi:
– Gặp rồi thì thế nào?
Thiền sư đáp:
– Nước biếc, trời xanh! HET=NAM MO A DI DA PHAT.( 3 LAN ).NIEM PHAT DUONG KIM LIEN.THICH NU GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.30/12/2016.
Mảnh ngói bể giúp Thiền sư Trí Nhàn khai ngộ.
Không trừ vọng tưởng thì chẳng thể khai ngộ
Thiền sư Hương Nghiêm Trí Nhàn là người Thanh Châu, vì chán ghét cuộc sống thế tục, nên từ bỏ gia đình đi bốn phương tìm thầy học đạo.
Đầu tiên, Trí Nhàn đến học với thiền sư Bách Trượng Hoài Hải, tuy có tài trí hơn người nhưng vẫn chưa được khai ngộ. Sau khi Bách Trượng viên tịch, Trí Nhàn đến học đạo với Quy Sơn Linh Hựu .
Thiền sư Linh Hựu hỏi Trí Nhàn:
— Ta nghe nói khi ngươi còn ở với tiên sư Bách Trượng, có thể hỏi một đáp mười, hỏi mười đáp trăm, chứng tỏ rằng ngươi thông minh tài trí hơn người, nhưng hiện tại ta không hỏi ngươi những tri thức cuộc đời hoặc do học hỏi được, cũng không hỏi ngươi đã học thuộc bao nhiêu kinh điển. Ta chỉ hỏi ngươi khi cha mẹ chưa sanh ra, bổn lai diện mục của ngươi như thế nào?
Trí Nhàn trong nhất thời không đáp được, trở về thiền phòng, khổ công suy nghĩ, tìm kiếm trong kinh thư sách vở câu trả lời, nhưng không có câu trả lời nào làm Linh Hựu hài lòng. Trí Nhàn khẩn cầu Linh Hựu nói phá cho mình, Linh Hựu bảo:
– Nếu bây giờ ta nói cho ngươi nghe, sau này ngươi sẽ mắng ta. Những gì ta nói chỉ là của ta, không liên quan gì đến ngươi!
Trí Nhàn cảm thấy trong lòng vô cùng buồn bã, gom hết sách vở đã học được từ trước đến nay đi đốt, nói với chính mình: “Ta sẽ không tìm kiếm gì nữa cả. Ta sẽ ra đi làm một du tăng hành khất bốn phương trời, không cần phải lao tâm tổn trí về những vấn đề như thế này nữa!”.
Trí Nhàn đến Nam Dương, tham bái di tích chùa Hương Nghiêm, nơi quốc sư Huệ Trung từng ở khi xưa, nay đã bị bỏ hoang phế. Trí Nhàn bắt tay vào tu sửa để ở.
Một hôm, khi đang cuốc đất, một mảnh ngói bể bật khỏi lòng đất, văng vào thân tre, phát ra tiếng kêu “coong” thanh trong, Trí Nhàn hốt nhiên khai ngộ.
Trí Nhàn tắm rửa sạch sẽ rồi đốt hương, hướng về Quy Sơn lễ bái, cảm kích nói:
– Hòa thượng đại từ đại bi, đối với đệ tử ân trọng như núi, hơn cả cha mẹ sinh ra. Nếu lúc ấy thầy vì đệ tử mà nói phá thì làm gì khai ngộ được như ngày hôm nay ?HET=NAM MO A DI DA PHAT.( 3 LAN ).NIEM PHAT DUONG KIM LIEN.THICH NU GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.30/12/2016.
Minh tâm kiến tánh, chúng sanh là Phật pháp.
Cuộc sống và những giáo lý cơ bản của Phật pháp
Của báu ở trong nhà
Thiền sư Đại Châu Huệ Hải đến tham bái thiền sư
Mã Tổ Đạo Nhất. Mã Tổ hỏi:
— Ông từ đâu đến?
Huệ Hải nói:
— Con từ Đại Vân tự ở Việt Châu đến!
Mã Tổ hỏi tiếp:
— Đến đây để làm gì?
Huệ Hải thành thật thưa:
— Con đến để cầu Phật pháp!
Mã Tổ nghiêm mặt, nói:
— Ta ở đây chẳng có vật gì cả, cầu Phật pháp gì chứ? Ở trong nhà có sẵn của báu lại không tìm, đi tìm ở bên ngoài ?
Huệ Hải hỏi:
— Cái gì là của báu ở trong nhà?
Mã Tổ đáp:
— Ngươi đang hỏi ta đấy chính là của báu ở trong nhà, tất cả ngươi đều có đủ, hãy sử dụng những gì mình đang có, hà tất phải tìm cầu bên ngoài.
Huệ Hải nghe xong nhận ra được bổn tính của mình.
Trái mai đã chín
Pháp Thường đến tham vấn thiền sư Mã Tổ, hỏi:
—Thế nào là Phật?
Mã Tổ đáp;
— Tâm tức là Phật!
Pháp Thường liền lĩnh hội, tìm đến Minh Ba Đại Mai Sơn làm trụ trì, được mọi người gọi là thiền sư Đại Mai. Mã Tổ biết chuyện, sai sứ giả qua xem thực hư.
Sứ giả đi đến chỗ Đại Mai, hỏi:
— Khi ngài đến tham vấn với Mã Tổ, đã lĩnh hội được gì mà ra ở núi này?
— Mã Tổ không nói “Tâm tức là Phật” nữa mà nói “phi tâm phi Phật”.
Đại Mai nói:
— Ông già hay lừa gạt người! Mặc ông ta phi tâm phi Phật, ta chỉ biết tâm tức là Phật.
Sứ giả về thuật lại với Mã Tổ, Mã Tổ nói:
— Trái mai đã chín!
Chui cửa giấy
Có Linh Thần Tán thiền sư sau khi tham vấn thiền sư Bách Trượng Hoài Hải đã khai ngộ, bèn trở về với thầy của mình ở chùa Đại Chung (Phước Châu). Một hôm thấy sư phụ đang ngồi bên cửa sổ đọc kinh, có một con ong đang tìm cách bay xuyên qua tấm giấy dán cửa để ra ngoài, nhưng chỉ có thể bò qua bò lại trên giấy mà thôi. Thiền sư Thần Tán thấy thế nói:
— Thế giới bao la không bay ra, lại cố chui vào vách giấy, bao giờ mới được tự do?
Sau đó Thần Tán nói bài kệ:
Cửa trống không bay ra Giấy bít cứ chui vào Trăm năm không xuyên thủng Bao giờ được thoát thân.HET=NAM MO A DI DA PHAT.( 3 LAN ).NIEM PHAT DUONG KIM LIEN.THICH NU GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.30/12/2016.
Các thiền sư và câu chuyện về tình thương của mẹ.
Tình thương của mẹ là một trong những điều làm nên tinh thần của một thiền sư
Thiền sư Shoun
Shoun đã trở thành một thiền sư của phái Soto, Nhật Bản. Cha ngài qua đời khi ngài còn là một thiền sinh và ngài phải chăm nom một mẹ già. Mỗi khi đến thiền đường ngài đều đưa mẹ theo. Vì mẹ ngài luôn ở bên cạnh, cho nên khi viếng các tự viện, ngài không thể ngụ cùng chư tăng. Ngài dựng một thảo am kế cận để được săn sóc cho mẹ. Ngài thường chép kinh kệ để sinh sống.
Ngài Shoun thường vào chợ mua cá cho mẹ ăn, người ở chợ đều mỉa mai vì nghĩ rằng ngài phạm giới, nhưng ngài bỏ ngoài tai. Tuy vậy, mẹ ngài lại đau lòng khi thấy mọi người đàm tiếu con mình. Một hôm, bà bảo ngài Shoun: “Mẹ nghĩ là mẹ có thể trở thành ni cô và ăn chay được.” Bà liền thực hành ăn chay và tu học.
Ngài Shoun rất thích âm nhạc và đã từng là bậc thầy về đàn tranh. Mẹ ngài cũng biết chơi đàn tranh. Có những đêm trăng tròn, hai mẹ con cùng hòa đàn với nhau.
Một đêm, có người con gái đi ngang qua nghe được tiếng đàn, liền mời ngài đến nhà nàng đánh đàn vào đêm sau. Ngài nhận lời. Vài hôm sau, ngài gặp cô gái ngoài phố và cám ơn nàng về lòng hiếu khách. Mọi người đều cười chế nhạo, vì người thiếu nữ đó là một cô gái giang hồ.
Một ngày kia, ngài Shoun phải đi thuyết pháp ở một ngôi chùa xa. Vài tháng sau, ngài trở về và được tin mẹ vừa mất. Người ta không biết ngài ở đâu để báo tin, nên đã tiến hành tang lễ.
Về đến nơi, ngài Shoun bước đến dùng gậy gõ lên quan tài và nói:
– Mẹ ơi, con đã về đây!
Rồi ngài tự trả lời:
– Con ạ, mẹ vui lắm khi thấy con trở về.
Và ngài tiếp tục:
– Vâng, con cũng vui lắm.
Rồi ngài tuyên bố cùng mọi người: “Tang lễ đã hoàn tất. Xin chôn cất tử tế.”
Khi ngài Shoun về già, ngài biết không còn sống được bao lâu, liền gọi môn đồ đến vào một buổi sáng rồi bảo rằng ngài sẽ viên tịch vào buổi trưa. Sau khi đốt hương trước di ảnh của mẹ và sư phụ, ngài viết một bài kệ:
“Ta đã cố sống cho trọn vẹn
trong năm mươi sáu năm,
Rong ruỗi trên đời.
Bây giờ mưa đã tạnh và mây đang tan,
Có gương trăng tròn trên bầu trời xanh.”
Môn đệ của ngài vây quanh tụng kinh, và ngài Shoun ra đi trong tiếng kinh cầu.
Thiền sư Ikkyu và chúc thư của mẹ
Ikkyu, vị thiền sư danh tiếng thời Ashikaga ở Nhật, vốn là một hoàng tử. Khi ngài còn bé, mẹ ngài đã rời khỏi hoàng thành để theo học thiền trong một tự viện. Cũng vì thế mà hoàng tử Ikkyu trở thành thiền sinh. Khi mẹ ngài qua đời, có để lại cho ngài một bức thư nội dung như sau:
“Gởi Ikkyu,
Mẹ vừa hoàn tất nghiệp quả trong đời này và trở về với cõi vô cùng. Mẹ chúc con trở thành một thiền sinh giỏi và nhận ra Phật tánh của mình. Nhờ vậy con mới biết được rằng mẹ có sa vào địa ngục hay không, và có luôn được gần con hay không.
Nếu con trở thành một kẻ hiểu được rằng đức Phật và đệ tử của Ngài là Bồ-đề Đạt-ma đều là những kẻ tôi tớ của chính con, con nên ngừng chuyện nghiên cứu học hỏi mà nên làm việc cứu nhân độ thế. Đức Phật đã thuyết pháp trong bốn mươi chín năm mà vẫn thấy không cần thiết nói lên một lời. Con phải biết vì sao. Nhưng nếu con không được như vậy, ít ra cũng nên tránh suy nghĩ những điều vô ích.
Mẹ của con.
Không sinh, không tử.
Ngày đầu tháng chín.
Tái bút:
Giáo pháp của Đức Phật là cốt để giác ngộ kẻ khác. Nếu con bị lệ thuộc vào những phương cách, thì con chẳng qua chỉ là một loại côn trùng ngu muội. Có đến tám vạn kinh điển Phật giáo và nếu con phải đọc cho hết mà vẫn không nhận ra Phật tính của con, con sẽ không hiểu được gì cả, ngay cả lá thư này. Đây là di chúc của mẹ.”
Thiền sư Jiun với lời mẹ dạy
Jiun, một vị Thiền sư phái Shingon, vốn là một học giả chữ Phạn thời Tokugawa ở Nhật. Lúc còn là thiền sinh, ngài hay thuyết giảng cho các đồng môn.
Khi hay tin, mẹ ngài liền viết cho ngài một lá thư nói rằng:
“Con ạ, mẹ không tin rằng khi con hiến mình vào cửa Phật là cốt để trở thành một cuốn tự điển sống. Biện bác sành sõi, vẻ vang và tự mãn chẳng đi đến đâu. Mẹ muốn con hãy dẹp cái trò lên lớp đó đi. Hãy dọn mình tĩnh tu trong một tiểu viện ở chốn thâm sơn cùng cốc. Dành mọi thời gian cho việc thiền quán, may ra con mới ngộ được chánh đạo.”HET=NAM MO A DI DA PHAT.( 3 LAN ).NIEM PHAT DUONG KIM LIEN.THICH NU GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.30/12/2016.
Làm thế nào để tránh các lỗi lầm?
Tất cả mọi người số trong chúng ta, không ai có thể phân biệt rạch ròi đúng sai tất cả mọi việc. Có nhiều việc chúng ta làm tưởng chừng như đúng nhưng thực ra lại sai.
Ví dụ như khi chúng ta thấy một người bạn của mình đang gặp chuyện buồn chán, chúng ta rủ rê người bạn ấy vào những trò chơi giải trí hoặc rượu chè để khuây khỏa. Mình cứ nghĩ là đang giúp bạn nhưng hóa ra lại vừa hại bạn, vừa hại cả chính mình.
Những việc sai mà tưởng đúng như vậy trong đời sống hằng ngày chúng ta đã làm rất nhiều. Sở dĩ chúng ta không phân biệt được đúng sai là vì trí tuệ chúng ta còn rất kém. Những bậc Thánh có trí tuệ càng cao thì càng phân biệt được nhiều việc đúng sai, đoán biết được hậu quả mai sau của từng hành động, lời nói, suy nghĩ. Cho nên muốn tránh được nhiều lỗi lầm, chúng ta phải nâng cao trí tuệ của bản thân mình.
Để nâng cao trí tuệ, trước hết chúng ta phải có lòng tin vào luật nhân quả. Nếu không có lòng tin luật nhân quả, suốt đời chúng ta sẽ chìm trong u tối. Chúng ta chỉ giải quyết được những chuyện thấy trước mắt và bằng những cách mê tín. Ví dụ như một người đi cầu xin số để trúng số đề hay một viên chức cố tìm cách làm giàu bằng biển thủ công quỹ. Nếu biết và tin vào luật nhân quả thì không ai mà lại làm những việc như vậy.
Chúng ta cũng cần phải học và thực hành theo những lời dạy của Đức Phật. Ngài là một người Thầy vĩ đại, đã để lại cho chúng ta những bài học vô cùng quý báu về cách tu sửa bản thân, cách nhìn nhận thế giới và con người một cách đúng đắn. Nếu chỉ học
mà không thực hành thì chúng ta chẳng khác gì những con vẹt chỉ biết nói suông. Hiệu quả của việc học chỉ có được nếu có sự kiên trì thực hành. Để tiếp cận giáo lý của đạo Phật, chúng ta nên thường đến các chùa nghe Kinh, nghe các thầy giảng Kinh, thuyết pháp.
Cuối cùng, chúng ta phải có niềm tin yêu, ngưỡng mộ các bậc Giác Ngộ. Sự giác hộ của các ngài là một động lực lớn giúp chúng ta có thêm sức mạnh để vượt qua nhiều chướng ngại trên con đường học và hành đạo.HET=NAM MO A DI DA PHAT.( 3 LAN ).NIEM PHAT DUONG KIM LIEN.THICH NU GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.30/12/2016.