Friday, 30 June 2017

PHẬT NÓI KINH A NẬU PHÁT .
 
   
Nghe như vầy:
Một thời Bà Già Bà ở tại Bạt Kỳ thành, tên gọi là A Nậu Phát. Bấy giờ đức Thế Tôn, sau giờ ngọ, từ thiền tọa đứng dậy, bảo tôn giả A Nan rằng:
–Này A Nan, chúng ta hãy cùng nhau đến bờ ao A Di Ðà Bà để tắm rửa.
Tôn giả A Nan thưa:
–Dạ vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả A Nan vâng theo lời dạy của đức Thế Tôn. Khi ấy đức Thế Tôn cùng tôn giả A Nan và các Tỳ kheo tùy tùng đi đến bờ ao A Di Ðà Bà. Ðến xong, ở trên bờ ao A Di Ðà Bà cởi y phục để trên bờ ao, rồi xuống ao A Di Ðà Bà tắm, tắm xong lên bờ lau mình (và mặc y phục vào).
Bấy giờ đức Thế Tôn bảo tôn giả A Nan:
–Này A Nan, người có phóng dật như Ðề Bà Ðạt Ðâu, khi bỏ chỗ này phải đọa vào ác thú Nê Lê, sanh trong địa ngục suốt một kiếp, khó có thể cứu vớt được. Này A Nan, thầy có nghe các Tỳ kheo nói lời này rằng: “Ta đã ghi nhận nhất quyết rằng Ðề Bà Ðạt Ðâu phải đọa vào ác thú Nê Lê, sanh trong địa ngục suốt một kiếp, khó có thể cứu vớt được” không?
Tôn giả A Nan đáp:
–Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Vì sao? Vì con có nghe điều này. Bạch Thế Tôn, con có nghe một vị Tỳ kheo nói với con rằng: “Thế nào, này hiền giả A Nan, đức Thế Tôn biết rõ những ý nghĩ, những hành động trong tâm của Ðề Bà Ðạt Ðâu chăng? Hay Ngài dùng các phương tiện khác để biết nên Ngài mới ghi nhận nhất quyết rằng: Ðề Bà Ðạt Ðâu phải đọa vào ác thú Nê Lê, sanh trong địa ngục suốt một kiếp, khó có thể cứu thoát”.
Ðức Thế Tôn dạy:
–Này A Nan, Tỳ kheo ấy hoặc là thượng tôn, hoặc là niên thiếu, hay còn nhỏ, là kẻ thiếu trí tuệ. Vì sao? Vì Như lai đã ghi nhận nhất quyết, nhưng vị ấy vẫn còn nghi hoặc. Này A Nan, ta không thấy có thiên, ma, phạm, Sa môn, Bà la môn, chúng thiên và loài người ở thế gian này mà ta đã ghi nhận nhất quyết như vậy là phải đọa vào ác thú Nê Lê, sanh trong địa ngục suốt một kiếp, khó có thể cứu như Ðề Bà Ðạt Ðâu. Vì sao? Này A Nan, ta ghi nhận nhất quyết rằng: Ðề Bà Ðạt Ðâu chắc chắn phải đọa vào ác thú Nê Lê, sanh trong địa ngục suốt một kiếp, khó có thể cứu thoát. Này A Nan, ta không thấy Ðề Bà Ðạt Ðâu có một chút pháp bạch tịnh, cho dù nhỏ như một sợi lông. Nếu ta thấy y có một chút pháp bạch tịnh thì ta đã không ghi nhận nhất quyết rằng: Ðề Bà Ðạt Ðâu chắc chắn phải đọa vào ác thú Nê Lê, sanh trong địa ngục suốt một kiếp, khó có thể cứu thoát. Cho nên này A Nan, vì ta không thấy Ðề Bà Ðạt Ðâu có một chút pháp bạch tịnh, cho dù nhỏ như một sợi lông. Nếu ta thấy y có một chút pháp bạch tịnh nên ta mới ghi nhận nhất quyết rằng: Ðề Bà Ðạt Ðâu chắc chắn phải đọa vào ác xứù, sanh trong địa ngục suốt một kiếp, khó có thể cứu thoát.
–Này A Nan, ví như cách thôn nọ không xa có một hầm phẩn lớn đầy phẩn hôi thối, hoặc có một người bị lọt vào trong đó, chìm xuống tận đáy. Hoặc có người trông thấy, suy nghĩ như vầy: “Ta có lòng thương xót muốn kẻ ấy được lợi ích, muốn cứu vớt kẻ ấy để kẻ ấy được an ổn”. Người ấy đứng trên hầm phẩn lớn đấy quán sát chung quanh để xem người ấy có chỗ nào không bị dính phẩn, dù nhỏ như một sợi lông để nắm kẻ ấy kéo lên. Người ấy đứng trên hầm phẩn lớn nhìn khắp thân thể của người kia nhưng không thấy có một chỗ nào, dù nhỏ như một sợi lông sợi tóc mà không bị dính phân để có thể nắm kéo lên được. Cũng vậy, này A Nan, ta không thấy Ðề Bà Ðạt Ðâu có một chút pháp bạch tịnh bằng một sợi lông, sợi tóc. Nếu y có một chút pháp bạch tịnh thì ta không ghi nhận nhất quyết rằng: Ðề Bà Ðạt Ðâu phải đọa vào chỗ ác Nê Lê, sanh trong địa ngục suốt một kiếp, khó có thể cứu thoát. Cho nên này A Nan, ta không thấy Ðề Bà Ðạt Ðâu có một chút pháp bạch tịnh, dù bằng một sợi lông do đó ta ghi nhận nhất quyết rằng: Ðề Bà Ðạt Ðâu phải đọa vào chỗ ác, sanh trong địa ngục suốt cả một kiếp, khó có thể cứu thoát.
Bấy giờ tôn giả A Nan rơi nước mắt khóc lóc, chắp tay hướng về đức Thế Tôn thưa rằng:
–Kính bạch Thế Tôn, thật là kỳ diệu. Nay Thế Tôn đã ghi nhận nhất quyết rằng: Ðề Bà Ðạt Ðâu phải đọa vào chỗ ác Nê Lê, sanh trong địa ngục, ở đấy trọn kiếp, khó có thể cứu thoát.
Ðức Thế Tôn dạy:
–Ðúng vậy, A Nan. Ðúng vậy, A Nan. Ta ghi nhận nhất quyết rằng: Ðề Bà Ðạt Ðâu phải đọa vào chỗ ác Nê Lê, sanh trong địa ngục, ở đấy trọn kiếp, khó có thể cứu thoát. Này A Nan, hãy nghe đức Như Lai Phân biệt Ðại nhơn căn tướng, chắc chắn sẽ có niềm tin, ý sanh hoan hỷ tối thượng đối với Như Lai.
Khi ấy tôn giả A Nan chắp tay hướng về đức Thế Tôn thưa rằng:
–Bạch đức Thế Tôn, nay quả là đúng lúc. Cúi mong đức Thế Tôn giảng cho các Tỳ kheo nghe về Phân biệt Ðại nhơn căn tướng. Khi nghe đức Thế Tôn giảng xong, các Tỳ kheo sẽ khéo thọ trì.
Ðức Thế Tôn dạy:
–Này A Nan, hãy lắng nghe, hãy khéo suy nghĩ, ta sẽ nói cho.
Tôn giả A Nan thưa:
–Dạ vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả A Nan vâng theo lời Phật dạy, đức Phật bảo:
–Này A Nan, Như Lai biết ý nghĩ của người khác, người ấy cùng tương ưng với thiện pháp, tương ưng với pháp bất thiện. Sau đó Như Lai biết tâm ý của người đó diệt pháp thiện, sanh pháp bất thiện. Người ấy đã diệt pháp thiện, sanh pháp bất thiện rồi, nhưng thiện căn còn sót lại chưa đoạn tuyệt. Từ thiện căn đó, lại sẽ phát sanh thiện pháp. Như vậy, người này sẽ đạt được pháp ý thanh tịnh. Này A Nan, giống như sáng sớm, mặt trời vừa xuất hiện, bóng tối liền diệt hết, ánh sáng liền phát sanh. Này A Nan, ý thầy thế nào? Mặt trời lên dần cho đến giờ ăn trưa, phải chăng bóng tối đã diệt, thì có ánh sáng hiện không?
Tôn giả A Nan thưa:
–Bạch Thế Tôn, đúng vậy.
–Cũng vậy, này A Nan, Như Lai biết những điều suy niệm trong tâm người khác, người này cùng tương ưng với pháp thiện, cũng tương ưng với pháp bất thiện. Sau đó Như Lai biết những điều suy nghĩ trong tâm người ấy, biết người này diệt pháp thiện, sanh pháp bất thiện. Người này đã diệt pháp thiện, sanh pháp bất thiện, nhưng thiện căn còn sót lại chưa đoạn tuyệt. Từ thiện căn đó sẽ lại phát sanh pháp thiện. Như vậy, người này sẽ đạt được pháp ý thanh tịnh. Này A Nan, ví như hạt lúa giống không hư, không vỡ, không mục, không nứt, không bị gió làm thương tổn, được cất giấu an ổn trong vựa lúa. Người cư sĩ làm ruộng kia sửa sang, cày bừa thửa ruộng ngay thẳng xong, gieo hạt lúa vào và mưa xuống đúng lúc, thì này A Nan, ý thầy thế nào? Người ấy có được thu hái nhiều hạt lúa chăng?
Tôn giả A Nan thưa:
–Bạch Thế Tôn, được nhiều hạt.
–Cũng vậy, này A Nan, Như Lai biết những điều suy nghĩ trong tâm ý người khác, biết người này cùng tương ưng với pháp thiện, tương ưng với pháp bất thiện. Sau đó Như Lai biết những điều suy nghĩ trong tâm người ấy, biết họ diệt pháp thiện, sanh pháp bất thiện. Người ấy đã diệt pháp thiện, sanh pháp bất thiện, rồi có những thiện căn còn sót lại chưa đoạn tuyệt. Từ thiện căn đó thiện pháp sẽ lại phát sanh. Như vậy, người này sẽ đạt được pháp ý thanh tịnh. Này A Nan, đó gọi là Như Lai nói về Ðại nhân căn tướng vậy. Cũng vậy, Như Lai biết rõ chỗ quay về của các pháp.
Lại nữa, này A Nan, Như Lai biết những điều suy nghĩ trong tâm ý người khác, biết người này cùng tương ưng với pháp thiện, tương ưng với pháp bất thiện. Sau đó Như Lai biết những điều suy nghĩ trong tâm người này, biết người này diệt pháp thiện, sanh pháp bất thiện. Người này đã diệt pháp thiện, sanh pháp bất thiện rồi, thiện căn có từ trước không đoạn tuyệt, nhưng tất cả thiện căn ấy rồi sẽ đoạn tuyệt. Như vậy, người này có pháp đoạn tuyệt. Này A Nan, giống như từ lúc xế chiều mặt trời lặn ánh sáng diệt hết, bóng tối sanh ra. Này A Nan, ý thầy thế nào? Sau khi mặt trời lặn, không phải giờ ăn, ánh sáng đã tắt hết thì bóng tối sanh ra chăng?
Tôn giả A Nan thưa:
–Bạch Thế Tôn, đúng vậy.
–Cũng vậy, này A Nan, Như Lai biết những suy nghĩ trong tâm của người khác, biết người này cùng tương ưng với pháp thiện, tương ưng với pháp bất thiện. Sau đó Như Lai biết những ý nghĩ trong tâm người ấy, người này diệt pháp thiện, sanh pháp bất thiện. Người này đã diệt pháp thiện, sanh pháp bất thiện rồi, đã có thiện căn còn sót lại chưa đoạn tuyệt, rồi tất cả sẽ đoạn tuyệt. Như vậy, người này đi đến pháp đoạn tuyệt. Này A Nan, giống như hạt lúa giống không hư, không vỡ, không mục, không nứt, không bị gió làm thương tổn, để an ổn trong vựa lúa. Nếu người cư sĩ kia sửa sang, cày bừa ruộng ngay thẳng, tốt rồi gieo hạt vào, nhưng mưa không phải thời, thì này A Nan, ý thầy thế nào? Có được nhiều hạt lúa không?
Tôn giả A Nan thưa:
–Bạch Thế Tôn, không thể được nhiều hạt.
–Cũng vậy, này A Nan, Như Lai biết ý nghĩ trong tâm của người khác, biết người này tương ưng với pháp thiện, tương ưng với pháp bất thiện. Sau đó Như Lai biết tâm niệm của người ấy diệt pháp thiện, sanh pháp bất thiện. Người đó đã diệt pháp thiện, sanh pháp bất thiện rồi, nhưng thiện căn có trước đây vẫn không đoạn tuyệt, thì nay sẽ đoạn tuyệt. Như vậy, người này có pháp đoạn tuyệt. Này A Nan, như vậy, là Như Lai nói về Ðại nhân căn tướng. Như vậy là pháp tướng của Như Lai, pháp tướng sanh ra Ngài đều biết rõ.
Lại nữa, này A Nan, Như Lai biết ý niệm của người khác, ta không thấy người này có một chút pháp bạch tịnh dù nhỏ như sợi lông sợi tóc. Người này một mực chỉ toàn là pháp ác bất thiện trói buộc, trở lại bị quả báo phiền nhiệt khổ sở, phải bị sanh, già, bệnh, chết. Như vậy, người này khi thân hoại mạng chung phải sanh trong địa ngục. Này A Nan, giống như hạt lúa giống bị hư, vỡ, mục nát, bị gió làm thương tổn, không được cất giấu cẩn thận. Nếu người cư sĩ làm ruộng ấy không ra sức cày đất, không làm cho đất thuần thục, bằng phẳng rồi gieo hạt giống xuống và mưa không phải thời, thì này A Nan, ý thầy thế nào? Người ấy có được nhiều lúa chăng?
Tôn giả A Nan thưa:
–Bạch Thế Tôn, dạ không.
Cũng vậy, này A Nan, Như Lai biết ý niệm của người khác. Ta không thấy người này có một chút thiện pháp dù nhỏ như sợi lông sợi tóc. Người này một mực chỉ toàn là pháp ác bất thiện trói buộc, nên trở lại bị quả báo nóng bức khổ não, phải chịu sự sanh, già, bệnh, chết. Như vậy, người ấy sau khi thân hoại mạng chung phải sanh trong địa ngục. Như vậy, này A Nan, Như Lai nói về Ðại nhân căn tướng như vậy. Như Lai đối với các pháp hỗ tương sinh ra Ngài đều biết rõ.
Khi ấy tôn giả A Nan chắp tay hướng Phật thưa rằng:
–Bạch Thế Tôn, Ngài đã thuyết giảng về ba hạng người như vậy. Như Lai có thể thuyết giảng về ba hạng người khác nữa được chăng?
Ðức Phật dạy:
–Này A Nan, ta có thể nói. Này A Nan, Như Lai hoặc biết ý niệm của người khác, biết người này cùng tương ưng với pháp thiện, cũng tương ưng với pháp bất thiện. Sau đó Như Lai biết tâm ý của người này, người này đã diệt pháp bất thiện, sanh pháp thiện. Người này đã diệt pháp bất thiện, sanh pháp thiện rồi, nhưng bất thiện căn còn sót lại chưa đoạn tuyệt. Từ pháp thiện đó lại sanh pháp thiện (?). Như vậy, người này đối với pháp bất thiện sẽ đoạn tuyệt. Này A Nan, ví như có lửa cháy, ngọn lửa cứ tự nhiên cháy, hoặc có người đẩy cỏ khô lên rồi chất củi khô lên. Này A Nan, ý thầy thế nào? Ngọn lửa càng bốc cháy mạnh lên chăng?
Tôn giả A Nan thưa:
–Bạch Thế Tôn, đúng vậy.
–Cũng vậy, này A Nan, Như Lai biết tâm ý của người khác, người này cùng tương ưng với pháp bất thiện, tương ưng với pháp thiện. Sau đó Như Lai biết tâm ý của người này, người này đã diệt pháp bất thiện, sanh pháp thiện. Người này đã diệt pháp bất thiện, sanh pháp thiện rồi, nhưng bất thiện căn còn sót lại chưa đoạn tuyệt. Từ pháp bất thiện đó lại sanh pháp bất thiện. Như vậy, người này đi đến pháp hủy diệt. Này A Nan, như vậy gọi là Như Lai nói về Ðại nhân căn tướng. Cũng vậy, Như Lai biết các pháp hỗ tương sanh ra Ngài đều biết rõ.
Lại nữa, này A Nan, Như Lai biết tâm ý của người khác, người này cùng tương ưng với pháp bất thiện, cũng tương ưng với pháp thiện. Sau đó Như Lai biết tâm ý của người này, người này đã diệt pháp bất thiện, sanh pháp thiện. Người này đã diệt pháp bất thiện, sanh pháp thiện rồi, nhưng bất thiện căn còn sót lại chưa đoạn tuyệt, tất cả rồi sẽ đoạn tuyệt. Như vậy người này đi đến pháp ý thanh tịnh rốt ráo. Này A Nan, ví như đốt lửa, ngọn lửa tự nhiên bốc lên, có người đem lửa đang cháy để trên đất khô, hoặc để trên đá. Này A Nan, ý thầy thế nào? Ngọn lửa có bốc cháy mạnh lên chăng?
Tôn giả A Nan thưa:
–Bạch Thế Tôn, không thể bốc cháy mạnh được.
–Cũng vậy, này A Nan, Như Lai biết ý niệm của người khác, người này cùng tương ưng với pháp bất thiện, cũng tương ưng với pháp thiện. Sau đó Như Lai biết tâm niệm của người này, người này đã diệt pháp bất thiện, sanh pháp thiện. Người này đã diệt pháp bất thiện, sanh pháp thiện rồi, bất thiện căn còn sót lại từ trước vẫn chưa đoạn tuyệt, nhưng rồi tất cả sẽ đoạn tuyệt. Như vậy, người đó đạt được pháp thanh tịnh hoàn toàn. Này A Nan, như vậy là Như Lai đã nói về Ðại nhân căn tướng. Cũng vậy, Như Lai biết các pháp hỗ tương sanh ra Ngài đều biết rõ.
Lại nữa, này A Nan, Như Lai biết tâm ý suy nghĩ của người khác. Ta không thấy người ấy có hắc nghiệp dù nhỏ như sợi lông, sợi tóc. Người ấy hoàn toàn có đầy đủ pháp thiện, hạnh thiện và quả báo thiện, thân kẻ ấy tương ưng với chỗ thiện. Như vậy, người ấy ngay trong đời này chắc chắn chứng Niết bàn. Này A Nan, ví như lửa đã tắt, mát lạnh, không còn nóng nữa, hoặc có người lấy cỏ khô bỏ vào trong ấy, này A Nan, ý thầy thế nào? Nó có thể bốc cháy không?
Tôn giả A Nan thưa:
–Bạch Thế Tôn, không thể được.
–Cũng vậy, này A Nan, Như Lai biết ý niệm của người khác. Ta không thấy người này có hắc nghiệp dù nhỏ như sợi lông, sợi tóc. Người ấy hoàn toàn có đầy đủ pháp thiện, hạnh thiện và quả báo thiện, thân kẻ ấy tương ưng với chỗ thiện. Như vậy, người ấy ngay trong đời này chứng Bát Niết bàn. Này A Nan, như vậy là Như Lai nói về Ðại nhân căn tướng. Cũng vậy, Như Lai đối với các pháp hỗ tương sanh ra Ngài đều biết rõ.
Này A Nan, ba hạng người nói trên kia, hạng thứ nhất đạt được pháp thanh tịnh, hạng thứ hai có pháp hoại diệt, hạng thứ ba khi thân hoại mạng chung chắc chắn đọa vào chỗ ác, sanh trong địa ngục. Ba hạng người ta nói sau đó, hạng người thứ nhất có pháp hủy diệt, hạng thứ hai có pháp thanh tịnh, hạng thứ ba ngay trong đời này chứng đắc Bát Niết bàn.
Này A Nan, ta đã nói về Ðại nhân căn tướng. Như đấng Thế Tôn thương yêu đệ tử, muốn được lợi ích, ta đã nói cho thầy nghe. Nay thầy phải ở chỗ vắng vẻ, ngồi dưới gốc cây mà thiền định, tư duy chớ có phóng dật, đừng để về sau phải hối hận. Ðó là lời giáo huấn của ta. Ðó là lời khuyên bảo của ta.
Ðức Phật thuyết pháp như vậy, các Tỳ kheo sau khi nghe đức Thế Tôn dạy, hoan hỷ phụng hành.
PHẬT NÓI KINH A NẬU PHÁT.HET=NAM MO A DI DA PHAT.( 3 LAN ).NIEM PHAT DUONG KIM LIEN.THICH NU TAM GIAC.AUSTRALIA,SYDNEY.1/7/2017.
PHẬT NÓI KINH A NA LUẬT, BÁT NIỆM.


Nghe như vầy:
Một thời Phật ở dưới cây Cầu sư, núi Thệ Chi. Hiền giả A na luật ngồi thiền bên bờ đầm vắng, tư duy : “Ðạo pháp là thiểu dục. Ða dục không phải là đạo pháp. Ðạo pháp là tri túc. Không nhàm chán, không phải là đạo. Ở ẩn là đạo pháp, ưa thích đồ chúng không phải là đạo. Tinh tấn là đạo pháp, giải đãi không phải là đạo. Kiềm chế tâm là đạo pháp, phóng đảng không phải là đạo pháp. Ðịnh ý là đạo pháp, nghĩ nhiều không phải là đạo. Trí tuệ là đạo pháp, ngu ám không phải là đạo”.
Ðức Phật dùng tâm thánh biết rõ ý của tôn giả. Thí như lực sĩ co duỗi cánh tay, liền bay đến trước tôn giả khen rằng :
–Lành thay ! Lành thay ! Này A na luật. Những điều mà ngươi suy niệm chính là điều mà bậc đại sĩ suy niệm. Hãy lắng nghe ta nói tám điều suy niệm của bậc đại sĩ, hãy khéo suy nghĩ mà thực hành. Hãy nên học Tứ thiền, kiểm soát ý, quán sát, không bỏ nữa chừng, chắc chắn được đại lợi, không mất chí nguyện. Sao gọi là Tứ thiền ? Ðó là xả bỏ pháp dục ác, bất thiện, ý được hoan hỷ là Nhất thiền hạnh. Nhờ xả niệm ác, chuyên tâm một cảnh, không cần hoan hỷ là Nhị thiền hạnh. Hoan hỷ đã chấm dứt, chỉ như pháp quán, rõ thấy khổ vui là Tam thiền hạnh. Ðã bỏ khổ vui, lo mừng đều đoạn mà an trụ thanh tịnh là Tứ thiền hạnh. Ðã học như vậy rồi, sau đó thực hành tám điều suy niệm của bậc đại nhân. Tứ thiền là phương pháp kiểm soát ý, ưa thấy nơi hành được lợi nguyện nhanh, không bỏ cuộc nữa chừng. Vã lại, người thiểu dục thí như vua có cận thần, chủ các rương hòm chứa đầy y phục đẹp, nhưng vua lại thích mặc đồ cũ, thiểu dục tri túc, ở ẩn, tinh tấn, chí tâm, định ý, trí tuệ, bỏ gia đình, không vui chơi, ngạo mạn, không có sai lầm, chắc chắn đó là người an ổn, đi đến cửa Nê hoàn. Ðó là tám điều suy nghĩ của bậc đại nhân.
Nhưng Tứ thiền để kiểm soát ý, quán sát, nghĩa của nó như nhà vua có cận thần trông coi việc nấu nướng, điều chế năm vị, nhưng vua lại ưa thích việc đi khất thực, mục đích để nuôi thân, không mong hưởng thụ. Ý nghĩa của nó như nhà vua có lầu các để trông xem, nhưng tự vui thích núi đầm rừng cây, chỗ yên tịnh, tinh tấn vô dục đối với thế gian. Ý nghĩa như nhà vua có cận thần, chủ các thứ thuốc hay và lạc, tô, đề hồ, thạch, mật, nhưng vua lúc có bệnh dùng nước tiểu tiện để được trừ bỏ khổ não. Nhờ thực hành tám suy niệm, tư duy tứ thiền, tinh tấn không thiếu sót, tâm không sai lầm, chắc chắn tự mình an ổn, đi tới cửa Nê hoàn.
Ðức Phật nói như vậy xong, liền trở về Thệ Chi, bảo các đệ tử : “Ðạo thì phải thiểu dục, không được đa dục. Ðạo thì phải tri túc, không được chứa nhóm cho dư. Ðạo thì phải phải ở chỗ yên tịnh, không nên ưa thích hội chúng. Ðạo thì phải tinh tấn, không được giải đãi. Ðạo thì phải kiềm chế tâm, không đượcphóng dật. Ðạo thì phải định ý, không được loạn ý. Ðạo thì phải có trí tuệ, không được ngu ám. Tỳ kheo phải lấy sự thiểu dục làm vui thích. Ðó là thân tự thiểu dục, nhưng đừng để người biết mình thiểu dục. Ý nghĩa như vậy mới đúng.
Tỳ kheo tri túc đó là bình bát, y phục, giường chõng, thuốc men chửa bệnh, các thứ đủ dùng thì thôi, đừng nên chứa nhóm cho dư. Ý nghĩa như vậy mới đúng. Tỳ kheo ở ẩn, đó là tránh người thế gian, không nhập vào chúng hội, ở xa nơi núi đầm, hang đá, gốc cây. Như có tứ chúng hoặc vua, đại thần đến để hỏi đạo thì hãy nói pháp thanh tịnh cho họ nghe, xong rồi đi liền. Thí như kẻ nghèo mắc nợ người giàu có, bị chủ lôi kéo, kẻ ấy muốn xa lìa, không thích ở ẩn xa lìa mọi người. Như vậy mới đúng nghĩa. Tỳ kheo tinh tấn là đoạn trừ điều phi pháp, siêng năng thực hành kinh đạo, chưa hề giải đãi. Ðầu đêm, nữa đêm, cuối đêm kinh hành, ngồi hay nằm, thường giác ngộ tâm ý, nhớ nghĩ điều thanh tịnh để trừ ngũ cái. Như vậy mới đúng nghĩa. Tỳ kheo kiềm chế tâm là bỏ dục, ác pháp, ngồi định ý, tư duy, quán tưởng để đoạn trừ khổ, lạc được tứ thiền hạnh. Như vậy là đúng nghĩa. Tỳ kheo định ý là thường nhất tâm quán thân, quán ý, không bị hành động sai khiến, nhiếp niệm theo đạo, bỏ tưởng ngu si não hại. Như vậy là đúng nghĩa. Tỳ kheo trí huệ đó là biết Tứ đế : khổ, tập, tận, đạo. Sao gọi là Khổ đế ? Ðó là sanh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ, ưu bi não khổ, ái biệt ly khổ, oán tắng tội khổ, sở dục bất đắc khổ. Tóm lại ngũ thạnh ấm là khổ. “Sanh khổ” là con người tùy theo hành động dẫn dắt thọ vào bào thai mà thành sanh, có hình thể, hiện căn thân, có nhập có thọ mà lớn lên. “Già khổ” là các căn con người đã chín mùi, hình thể đã thay đổi, tóc bạc, răng long, gân mỏi, da nhăn, lưng còng phải chống gậy mà đi. “Bệnh khổ” là con người bị tội hành hạ đến nỗi bị ung thư, ghẻ mũ, kinh phong, điên cuồng… Bệnh có rất nhiều, hơn một trăm thứ. “Chết khổ” là con người mạng chung, thân hình hư nát, hơi ấm không còn, tắt thở, hồn thần đã lìa. Những thứ ấy đều là khổ.
Sao gọi là Tập đế ? Ðó là không thọ, không nhập, ái đã hết sạch không còn nữa, sự trói buộc đã mở, người thấy bằng trí tuệ, không còn tất cả. Người thế gian không có ai thấy sự trói buộc của năm ấm. Vị này không còn tái sanh nữa, đã mở hết các dây ái trói buộc, nhờ trí tuệ mà thấy “phi thường, khổ, không, phi thân”, nên đã đoạn trừ. Ðó là Tập đế.
Sao gọi là Ðạo đế ? Ðó là tám trực đạo : chánh kiến, chánh tư, chánh ngôn, chánh hành, chánh trị, chánh mạng, chánh chí và chánh định. Sao gọi là chánh kiến ? Chánh kiến có hai loại : có tục có đạo, biết có nhân nghĩa, biết có cha mẹ, biết có Sa môn, Phạm chí, biết có kẻ đắc đạo, chơn nhân, biết có đời này đời sau, biết có thiện ác tội phước. Từ đây đến bên kia nhờ thực hành mà chứng đạo. Ðó là chánh kiến thế gian. Nhờ hiểu Tứ đế : khổ, tập, tận, đạo, đã được huệ kiến “không, tịnh, phi thân”. Ðó là đạo chánh kiến.
Chánh tư cũng có hai. Suy tư về học vấn, suy tư về hòa kính, suy tư về giới, thận, suy tư về vô hại. Ðó là thế gian chánh tư. Suy tư về xuất xứ, suy tư về nhẫn, im lặng, suy tư về sự diệt sạch hết ái trước. Ðó là đạo chánh tư.
Chánh ngôn cũng có hai. Không nói hai lưỡi, không nói lời ác, mắng chửi, không nói dối, không nói lời thêu dệt. Ðó là chánh ngôn của thế gian. Lìa bốn lỗi của miệng, giảng thông lời đạo, tâm không tạo tác, sạch hết không còn tàn dư nữa. Ðó là chánh ngôn của đạo.
Chánh hạnh cũng có hai. Thân làm điều thiện, miệng nói điều thiện, tâm nghĩ điều thiện. Ðó là chánh hạnh của thế gian. Thân miệng tinh tấn, tâm niệm tịnh, tiêu diệt phóng đãng, chấp trước. Ðó là chánh hạnh của đạo.
Chánh trị cũng có hai. Không sát không đạo, không dâm, không tự mình cống cao, tu đức tự phòng thủ. Ðó là chánh trị của thế gian. Lìa bỏ ba điều ác của thân, trừ đoạn khổ tập, diệt ái cầu độ thoát. Ðó là chánh trị của đạo.
Chánh mạng cũng có hai. Cầu tiền của theo đạo nghĩa, không tham của một cách bừa bãi, không dùng tâm dối trá với người. Ðó là chánh mạng của thế gian. Ðã xa lìa tà nghiệp, bỏ chức vị thế gian, không phạm sự ngăn cấm của đạo. Ðó là chánh mạng của đạo.
Chánh trí cũng có hai. Không ganh tị, không giận hờn, không tà vạy. Ðó là chánh trí củathế gian. Lìa ba điều ác của tâm, thực hành bốn điều đoan chánh của ý, thanh tịnh  vô vi. Ðó là chánh trí của đạo.
Chánh định cũng có hai. Thể tánh thuần thục, điều hòa theo điều lành, an tâm kiên cố, tâm không quanh co tà vạy. Ðó là chánh định của thế gian. Ðược bốn ý chí, tưởng nhớ không, vô tưởng, không nguyện, thấy nguồn gốc của Nê hoàn. Ðó là chánh định của đạo. Ðó là Ðạo đế.
Tỳ kheo bỏ nhà, dứt bỏ ân ái, suy tư về đạo một cách an tịnh, không có luyến ái, hâm mộ, ý không chạy theo dục, thanh tịnh, không chướng ngại. Ðó là nghĩa của đạo pháp, phải tuân theo như vậy.
Hiền giả A na luật nghe đức Phật nói kinh, khai mở, dẫn dắt ý của Ngài. Ngài thọ trì thực hành trong ba tháng thì lậu tận trừ, ý giải thoát, được ba trị, đã chứng đạo rồi, tự biết mình đã được A la hán, liền nói bài kệ:
Không nhàm chán dục lạc.
Vì dục lạc phóng tâm.
Do đó phải chịu khổ.
Làm ác nhiều trói buộc.
Thiểu dục biết đạo hạnh.
Biết thẹn không tự kiến.
Pháp này được thanh tịnh.
Xa ác, thoát thế gian.
Ta dùng Như không định.
Các khổ được diệt trừ.
Theo lời đức Phật dạy.
Giữ hạnh bỏ dục ác.
Bỏ tai hoạn nơi thân.
Ðược lợi theo vô vi.
Từ đó được ba trị.
Ðã nhổ gốc ân ái.
Ngay nơi xóm Duy sa.
Vườn trúc, Bát Nê hoàn.
PHẬT NÓI KINH A NA LUẬT, BÁT NIỆM.HET=NAM MO A DI DA PHAT.( 3 LAN ).NIEM PHAT DUONG KIM LIEN.THICH NU TAM GIAC.AUSTRALIA,SYDNEY.1/7/2017.
PHẬT THUYẾT KINH A-NA-BÂN-ĐỂ GIÁO HÓA BẢY NGƯỜI CON.


Nghe như vầy:
Một thời Đức Bà-già-bà du hóa ở vườn Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc thành Xá-vệ.
Bấy giờ A-na-bân-để có bảy người con đều không tin tưởng nơi Phật, Pháp, Tăng. Họ không quy y Phật, quy y Pháp, quy y chúng Tỳ-kheo, cũng không bỏ sát sinh, không bỏ trộm cắp, không bỏ tà dâm, không bỏ nói dối, không bỏ uống rượu.
Trưởng giả A-na-bân-để bảo bảy người con:
–Này các con, phải nên quy y Phật, quy y Pháp, quy y chúng Tăng, và chớ sát sinh, đừng trộm cắp, không tà dâm vợ người, không nói dối, không uống rượu; tất cả đều không nên phạm phải.
Các người con đáp:
–Con không thể quy y Phật, quy y Pháp, quy y chúng Tỳ-kheo. Đối với các việc sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu, đều không thể từ bỏ được.
Trưởng giả A-na-bân-để bảo:
–Ta sẽ cho các con ngàn lượng vàng. Này các con, nên quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, sửa đổi không còn sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu, tất cả đều sửa đổi theo những việc ấy.
Khi bảy người con đã được ngàn lượng vàng, họ liền quy y Phật, quy y Pháp, quy y chúng Tỳ-kheo, sửa đổi không còn sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu.
Trưởng giả A-na-bân-để cho bảy người con, mỗi người ngàn lượng vàng, chỉ cho họ thọ tam quy ngũ giới xong, liền đến Kỳ viên, vào gặp Thế Tôn, đầu lạy sát chân Phật, ngồi qua một bên. A-na-bân-để bạch Thế Tôn:
–Trong đời này, con có bảy đứa con không tín ngưỡng, không có tâm hoan hỷ với Phật, Pháp, Tăng; không tự quy y Phật, quy y Pháp, quy y chúng Tỳ-kheo; không từ bỏ sát sinh, không từ bỏ trộm cướp, không từ bỏ tà dâm, không từ bỏ nói dối, không từ bỏ uống rượu. Bạch Thế Tôn, khi bảy đứa con này đều được con cho chúng mỗi người ngàn lượng vàng, thì liền khiến chúng quy y Phật, quy y Pháp, quy y chúng Tỳ-kheo và thọ trì năm giới. Bạch Thế Tôn, vậy bảy người con kia có được chút phước thiện công đức nào để thu đạt vào đời sau không?
Đức Thế Tôn dạy:
–Lành thay! Lành thay! Này trưởng giả, ông đã làm nhiều lợi ích cho chúng sinh, muốn đem lại an ổn cho muôn loài, cả trời, người cũng được an lành. Này trưởng giả, bảy người con kia, nhờ vào công đức này nên các công đức thiện đều được đầy đủ. Ông hãy lắng nghe, Ta sẽ giảng về chỗ tạo nhân công đức và các phước thiện của bảy người con kia và quả báo họ thu đạt được. Về phương Bắc này, có một quốc đọ, kinh thành tên Thạch thất, đất nước giàu có, dân chúng phồn thịnh, nơi ấy có kho tàng Y-la-bát-đa-la với vô số tram ngàn vàng bạc, châu báu như xà cừ, mã não, chân châu, hổ phách, thủy tinh, lưu ly và các loại vật quý giá đẹp đẽ khác. Người dân nước Càn-đà-việt kia, trong bảy năm, bảy tháng, bảy ngày, hoặc dùng vạt áo dài bọc lấy các thứ vật quý đó, tùy theo ý muốn của họ mà tiêu dùng, nhưng kho tàng của Y-la-bát-đa-la không hề bị giảm bớt. Này trưởng giả, bảy người con ấy cũng như kho báu lớn Y-la-bát-đa-la và bảy ngàn lượng vàng kia, nếu gấp lên trăm lần, ngàn lần, trăm ngàn lần, đến vô số lần, đều cũng không bằng công đức của bảy người con ông sẽ thu đạt được.
Này trưởng giả, lại có quốc đọ tên Ca-lăng-cừ, kinh thành tên Mật-hy-la, lúa gạo đầy đủ, dân chúng đông đúc, nơi đó có kho tang quý tên Bát trù với vô số châu báu như vàng bạc, xa cừ, mã não, chân châu, thủy tinh, lưu ly, san hô, hổ phách. Trong bảy ngày, bảy tháng, bảy năm, dân chúng nước Ca-lăng-cừ tùy theo ý muốn của mình tha hồ mà lấy đem đi nhiều hay ít, dù họ không hề lấy ít đi nữa, nhưng kho tàng của nước Ca-lăng-cừ vẫn không bị giảm. Này trưởng giả, bảy người con với sở hữu bảy ngàn lượng vàng cũng như kho báu lớn Bát trù và số bảy ngàn lượng vàng kia nếu gấp trăm lần, ngàn lần, trăm ngàn lần, vô số lần, thì cũng không bằng công đức của bảy người con với bảy ngàn lượng vàng sẽ thu đạt được, nói chung là không gì so sánh bằng.
Lại nữa, này trưởng giả, ở nước Tỳ-đề-sư, kinh thành tên Tulại-trá, có kho báu lớn tên Tân-ca-la, chứa vô số trăm ngàn thứ châu báu như vàng bạc, xà cừ, mã não, chân châu, hổ phách, thủy tinh, lưu ly. Dân chúng ở nước Tỳ-đề-sư trong bảy năm, bảy tháng, bảy ngày, tùy theo ý định của mình muốn mang chở châu báu ấy nhiều hay ít để đem đi xa, nhưng kho tàng Tân-ca-la vẫn không bị giảm xuống. Này trưởng giả, bảy người con với bảy ngàn lượng vàng cũng như kho tàng quý Tân-ca-la và bảy ngàn lượng vàng của bảy người con đó nếu gấp trăm lần, ngàn lần, trăm ngàn lần, vô số lần, đều cũng không bằng công đức của bảy người con sẽ thu đạt được, không thể tính toán xuể.
Lại nữa, này trưởng giả, ở nước Ca-thi, kinh thành Ba-la-nại, có kho tàng tên Nhương-già với vô số vàng bạc, châu báu như xa cừ, mã não, thủy tinh, lưu ly, trân châu, hổ phách. Bảy người con có bảy ngàn lượng vàng kia, cũng như kho báu lớn Nhương-già, và bảy ngàn lượng vàng của bảy người con đó nếu gấp trăm lần, ngàn lần, tram ngàn lần, vô số lần thì cũng không bằng công đức họ sẽ thu đạt được.
Này trưởng giả, hãy khoan nói về dân chúng của các nước Càn-đà-việt, Ca-lăng-cừ, Tỳ-đề-sư, Ca-thi. Ví dụ tất cả dân chúng nam, nữ, lớn, nhỏ của một sáu nước lớn ở cõi Diêm-phù-đề này đều theo ý muốn của mình mà chọn lấy mang đem đi các vật quý ở bốn kho báu lớn như vàng bạc, châu báu, xà cừ, mã não, chân châu, hổ phách, thủy tinh, lưu ly, trong bảy năm, bảy tháng, bảy ngày, họ tùy theo ý muốn khuân vác mang các vật báu ấy, nhưng bốn kho báu lớn kia vẫn không bị giảm sút. Này trưởng giả, công đức của bảy người con kia, với bảy ngàn lượng vàng và bốn kho báu lớn, dù gấp tram lần, ngàn lần, trăm ngàn lần, vô số lần cũng không bằng.
Bấy giờ Đức Thế Tôn nói kệ:
Y-la-bát, Càn-đà
Bát trù ở Mật-hy
Tân-già ở Tu-lại
Nhương-già, Ba-la-nại
Bốn kho quý như vậy
Đầy các loại châu báu
Vô số nhưng không bằng
Quả công đức đã làm.
Khi Đức Thế Tôn vì trưởng giả A-na-bân-để thuyết giảng giáo pháp vi diệu, làm cho ông vô cùng hoan hỷ, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa lại y phục, bày vai phải, quỳ gối phải xuống đất, chắp tay hướng về Phật, bạch Thế Tôn:
–Ngưỡng mong Đức Thế Tôn nhận lời con thỉnh, cùng với chúng Tỳ-kheo Tăng, con muốn tổ chức trai soạn cúng dường, vì bảy người con đã được quy ngưỡng nẻo thiện.
Đức Thế Tôn im lặng nhận lời thỉnh của A-na-bân-để.
Khi thấy Đức Thế Tôn đã im lặng nhận lời, A-na-bân-để liền lạy sát chân Đức Phật rồi từ giã.
Trưởng giả về nhà, vào ngày thỉnh Phật, chuẩn bị đầy đủ các món ăn ngon quý, sau khi dọn thức ăn, trải tọa cụ, trưởng giả đến gặp Phật và chúng Tỳ-kheo bạch:
–Nay đã đúng lúc, ngưỡng mong Thế Tôn hạ cố đi đến.
Lúc ấy Đức Thế Tôn biết đã tới giờ, liền mặc y, mang bát, cùng chúng Tỳ-kheo tùy tùng vào thành Xá-vệ, đến nhà A-na-bân-để, ngồi vào chỗ đã bày sẵn, chúng Tỳ-kheo ai nấy đều an tọa.
Trưởng giả A-na-bân-để cùng bảy người con đến chỗ Đức Phật, đầu mặt lạy sát chân Thế Tôn, rồi ngồi qua một bên.
Trưởng giả A-na-bân-để bạch Thế Tôn:
–Con có bảy người con, đều cho mỗi người ngàn lượng vàng, khiến chúng tự quy y Phật, quy y Pháp, quy y chúng Tỳ-kheo, khiến đều thọ năm giới. Nay, ngưỡng mong Thế Tôn vì chúng thuyết Pháp, làm cho bảy người con này, nhờ vào trí tuệ của Như Lai mà mọi nhận thức được sáng suốt.
Đức Thế Tôn bảo trưởng giả A-na-bân-để:
–Đúng vậy! Trưởng giả. Đúng vậy! Trưởng giả.
Trưởng giả A-na-bân-để thấy Đức Phật và chúng Tỳ-kheo đã an tọa, nên cùng với bảy người con đem thức ăn ngon quý cúng  dường lên Đức Phật. Sau đó, thấy Đức Thế Tôn đã thọ trai xong cất bát, trưởng giả A-na-bân-để liền đến chỗ Đức Thế Tôn, đầu mặt lạy sát chân Ngài rồi ngồi qua một bên, cùng bảy người con thỉnh Đức Như Lai thuyết pháp vi diệu. Đức Thế Tôn biết bảy người con của trưởng giả A-na-bân-để chí tâm nghe pháp. Chư Phật Thế Tôn luôn tùy theo căn cơ mà thuyết các pháp về Khổ, Tập, Diệt, Đạo, Đức Thế Tôn khi ấy cũng vì bảy người con của A-na-bân-để mà thuyết pháp như vậy. Ngay tại chỗ ngồi, họ đều dứt sạch các bụi bặm cấu uế, tâm thanh tịnh, phát sinh pháp nhãn. Họ đã thấy pháp, lãnh hội diệu pháp một cách mau chóng, không còn nghi ngờ, cũng không còn vọng tưởng do dự, đắc vô sở úy. Nhờ hiểu rõ diệu pháp của Đức Như
Lai, họ quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, thọ trì năm giới.
Đức Thế Tôn vì trưởng giả A-na-bân-để và bảy người con, lại giảng thêm các pháp, sau đó rời chỗ ngồi ra về. Trưởng giả A-na-bân-để và bảy người con nghe Đức Phật giảng pháp, đều hoan hỷ phụng hành.HET=NAM MO A DI DA PHAT.( 3 LAN ).NIEM PHAT DUONG KIM LIEN.THICH NU TAM GIAC .AUSTRALIA,SYDNEY.1/7/2017.
PHẬT NÓI KINH A-LA-HÁN CỤ ĐỨC.

Bấy giờ Đức Thế Tôn đang ngồi trên tòa ở trong tinh xá Cấp cô độc, nước Xá-vệ, có các Bí-sô và tám bộ Trời, Rồng, Người và Phi nhân… vây quanh Thế Tôn, im lặng chắp tay nghe Phật giảng dạy.
Thế Tôn bảo các Bí-sô:
–Ta sẽ khen ngợi các đại Thanh văn có khả năng tu trì Phật pháp một cách thanh tịnh, đầy đủ đức độ ở quả vị của mình. Các ông hãy lắng nghe, ghi nhớ kỹ, Ta sẽ vì các ông lần lượt tuyên thuyết.
Này các Bí-sô, trong đệ tử của Ta có đại Thanh văn, từ bỏ vương vị xuất gia đã lâu, ngộ đạo đầu tiên, phạm hạnh đệ nhất là Bí- sô Kiều-trần-như.
Lại có Thanh văn ít ham muốn, thường hoan hỷ giữ hạnh Đầu- đà là Bí-sô Đại Ca-diếp.
Lại có Thanh văn đầy đủ đại biện tài, trí tuệ đệ nhất là Bí-sô Xá-lợi-phất.
Lại có Thanh văn tu trì tinh tấn, đầy đủ thần thông là Bí-sô Mục-kiền-liên.
Lại có Thanh văn thực hành thiền quán, đắc đại Thiên nhãn là Bí-sô A-nị-lỗ-đà.
Lại có Thanh văn đầy đủ định tuệ, đa văn đệ nhất là Bí-sô Anan.
Lại có Thanh văn thông hiểu nghi quỹ, đủ khả năng gìn giữ luật tạng là Bí-sô Ưu-ba-ly.
Lại có Thanh văn ở giữa đại chúng đủ khả năng giảng diệu pháp là Bí-sô Phú-lâu-na Di-la-ni Tử.
Lại có Thanh văn luôn có được đầy đủ các dụng cụ về ngồi nằm là Bí-sô Nại-la-ma-thiết-thân-mạt-la Tử.
Lại có Thanh văn âm thanh thuyết pháp như tiếng rống sư tử là Bí-sô Tân-độ-la Bạt-ra-đọa-xá.
Lại có Thanh văn thông hiểu kinh luật, có khả năng luận nghị là Bí-sô Ca-chiên-diên.
Lại có Thanh văn đối với Phật pháp tín giải đệ nhất là Bí-sô Mạt-yết-ly.
Lại có Thanh văn tu trì đắc quả làm vinh hiển cho thị tộc là Bí-sô Ca-lưu-đà-di.
Lại có Thanh văn khi diễn thuyết, đầy đủ âm thanh vi diệu to lớn là Bí-sô Bạt-nại-lý-kha.
Lại có Thanh văn thông hiểu mỹ ngữ để có thể đàm luận là Bí-sô Đồng tử Ca-diếp.
Lại có Thanh văn đầy đủ tinh tấn trong bốn uy nghi là Bí-sô Suất-lỗ-noa-cô-chỉ-phược-tha.
Lại có Thanh văn đối với tất cả các pháp đều thông suốt mau lẹ là Bí-sô Phược-lý-thất-ca.
Lại có Thanh văn tinh tấn tiến tới ngộ đạo đắc quả là Bí-sô Tức-lý-dã-ca.
Lại có Thanh văn đầy đủ thần thông hỏa giới là Bí-sô Tu-già-đà.
Lại có Thanh văn xả bỏ tộc họ cao quý, ưa thích xuất gia là Bí-sô Hiền.
Lại có Thanh văn thuộc vương tộc họ Thích, từ giã xuất gia là Bí-sô Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp.
Lại có Thanh văn tại nơi linh tháp, thọ thỉnh trước tiên là Bí-sô Bố-lan-na.
Lại có Thanh văn tùy việc trình bày đều đại trí tuệ là Bí-sô Câu-hy-la.
Lại có Thanh văn uy nghi đoan chánh, tướng mạo tròn đầy là Bí-sô Ô-ba-tế-na Mạt-yết-lê Tử.
Lại có Thanh văn dốc tâm đối với Phật pháp thông tỏ diệu nghĩa đệ nhất là Bí-sô Bán-thát-ca.
Lại có Thanh văn có khả năng đoạn trừ nghi ngờ đối với lý Tứ đế là Bí-sô Đại Bán-thát-ca.
Lại có Thanh văn lời nói luôn ngay thẳng, không ẩn khuất, thường khuyên răn các Bí-sô là Bí-sô Kiếp-tân-na.
Lại có Thanh văn thường làm công việc khuyên răn các Bí-sô- ni là Bí-sô Nan-na-ca.
Lại có Thanh văn được nhiều người quy ngưỡng, thường đạt nhiều tài lợi là Bí-sô Tế-phược-na.
Lại có Thanh văn các căn luôn kín đáo, người khác không lường được là Bí-sô Nan-nô.
Lại có Thanh văn giữ gìn giới luật thanh tịnh, không thiếu sót là Bí-sô La-hầu-la.
Lại có Thanh văn ít bệnh, ít khổ vì thân hiện tại là Bí-sô Vị-cô-la.
Lại có Thanh văn thường hành bố thí đạt đến sự bất diệt, hiểu rõ diệu nghĩa Không đệ nhất là Bí-sô Tu-bồ-đề.
Lại có Thanh văn luôn luôn ít nói là Bí-sô Ngang-đế-lý-dã.
Lại có Thanh văn đầy đủ Túc mạng trí, nói lên được những việc đã làm trong quá khứ là Bí-sô Du-tỳ-đà.
Lại có Thanh văn thường tu phạm hạnh, sống ở núi rừng là Bí-sô Hộ Quốc.
Lại có Thanh văn luôn có đầy đủ các dụng cụ để ngồi, nằm là Bí-sô Kiều-phạm-ba-đề.
Lại có Thanh văn luôn tinh tấn tiến tới được pháp định là Bí-sô Lý-phược-đa.
Lại có Thanh văn tu hành đoạn trừ những phiền não đã sinh là Bí-sô Na-la-đà.
Lại có Thanh văn khéo dùng các phương tiện để ngăn ngừa các phiền não chưa sinh là Bí-sô Di-xí-ca.
Lại có Thanh văn thường hành tâm Từ đầy đủ là Bí-sô Lê-bà-đa.
Lại có Thanh văn khéo hành tâm Từ ở những nơi chốn khổ đau là Bí-sô Tất Lăng-già-bà-ta.
Lại có Thanh văn với hạnh Xả ly rộng lớn là Bí-sô Bà-na-lê.
Lại có Thanh văn đủ sức Xả ly rộng lớn là Bí-sô Đức Thắng.
Lại có Thanh văn thông đạt tỏ rõ các thiện ác là Bí-sô Yếtnặc-ca-phược-tha.
Lại có Thanh văn đoạn trừ mau lẹ tham dục thế gian là Bí-sô Nan-đà.
Lại có Thanh văn đối với sân hận trừ diệt mau lẹ là Bí-sô Nhĩ- la.
Lại có Thanh văn siêng năng tu chứng thắng quả, đoạn trừ ngã mạn mau lẹ là Bí-sô Ma-na-phược.
Lại có Thanh văn diệt trừ nhanh chóng pháp ngu si là Bí-sô Bà-ra-đọa-nhã Ma-na-phược.
Lại có Thanh văn tu trì thanh tịnh, thông giải về nhân quả là Bí-sô Ma-na-phược.
Lại có Thanh văn thường tu thắng quả, đủ lợi căn lớn là Bí-sô Ương-quật-ma-la.
Lại có Thanh văn ba nghiệp điều hòa, các căn luôn dịu dàng thuận hợp là Bí-sô Tát-lý-ba-na-sa.
Lại có Thanh văn thường giỏi thưa hỏi các nghĩa lý vi diệu là Bí-sô Ma-hát-chỉ.
Lại có Thanh văn đầy đủ biện tài lớn trong ngôn luận là Bí-sô Ra-đà.
Lại có Thanh văn thường dùng nghĩa lý xâu xa để thưa hỏi  với mẹ là Bí-sô Yết-la-ba.
Lại có Thanh văn thông thuộc pháp nghĩa, kết tập kệ tụng là Bí-sô Phược-nghĩ-xá.
Lại có Thanh văn nói ra lời gì luôn luôn chân thật là Bí-sô Vĩ- xá-hà Bán-tả-lê Tử.
Lại có Thanh văn dùng tâm thanh tịnh thường vui cầu pháp là Bí-sô Đạt-lý-di-ca.
Lại có Thanh văn tu hạnh hoan hỷ, đủ sức nhẫn nhục là Bí-sô Bố-lan-hoa.
Lại có Thanh văn từ trong quán pháp khéo đạt được bản tâm là Bí-sô Dã-thâu-na.
Lại có Thanh văn trong pháp thế gian rất giỏi chiêm tinh, xem tướng là Bí-sô Mật-lý-nga-thi-ra.
Lại có Thanh văn dùng tâm thù thắng khéo giải diệu pháp là Bí-sô Đạt-ma-ca.
Lại có Thanh văn luôn tự tại đối với dục, khéo rõ nẻo đến và đi là Bí-sô Bổ-đặc-già-la.
Lại có Thanh văn trong tất cả thời đều nói điều thiện là Bí-sô Ba-ma-na.
Lại có Thanh văn dùng các phương tiện thiện xảo để giảng giải diệu pháp là Bí-sô Đạt-lý-di-la.
Lại có Thanh văn hiểu nghĩa diệu pháp, giảng giải theo thứ lớp là Bí-sô Nga-phược-nại-đa.
Lại có Thanh văn trong tất cả thời nói pháp đều không hề biết mệt là Bí-sô Cát bế đát kế.
Lại có Thanh văn hình dáng nghiêm túc, trong tâm luôn hoan hỷ là Bí-sô Vô Năng Thắng.
Lại có Thanh văn thường thể hiện nhiều hoan hỷ là Bí-sô Chánh Giác.
Lại có Thanh văn tận lực tu tập về trí tuệ để chứng giải thoát là Bí-sô Thiện Sinh.
Lại có Thanh văn luôn nỗ lực để chứng đạt định tuệ giải thoát là Bí-sô Phược-sáp-ba.
Lại có Thanh văn dứt trừ được lòng tham là Bí-sô Nhãm-mô-ca.
Lại có Thanh văn khéo thực hiện đầy đủ sự giải thoát là Bí-sô Phệ-ra-thát-tinh-hạ.
Lại có Thanh văn tu trì thanh tịnh, luôn biết rõ những điều mình đã tin hiểu là Bí-sô Xoa-ma-ca.
Lại có Thanh văn trong thế gian luôn đạt được mọi sự thù thắng hơn hết là Bí-sô Ma-thất-ca.
Lại có Thanh văn trí tuệ thông tỏ các pháp cao thâm, biết được lý luận của ngoại đạo là Bí-sô Tối Thắng.
Lại có Thanh văn luôn đầy đủ chánh kiến, khéo dẹp ma quân là Bí-sô Tỷ-ngật-ra-trường-nhĩ.
Lại có Thanh văn thường dùng trí tuệ khéo phá được ngu mê là Bí-sô Nhã-ca-diếp.
Lại có Thanh văn thường hành bình đẳng là Bí-sô Phác-ngộ-ca.
Lại có Thanh văn tu tập trí thanh tịnh, giảm dần mọi thứ phiền não bụi bặm là Bí-sô Suất-lỗ-nô-cô-chỉ-yết-lan-nô.
Lại có Thanh văn trong con đường tiến tới của sự tu tập luôn đủ thanh tịnh lớn là Bí-sô Ô-đát-lỗ.
Lại có Thanh văn thân thể không khiếm khuyết, các căn đầy đủ là Bí-sô Ngang-nghĩ-lô.
Lại có Thanh văn trong sự tu trì luôn hiểu rõ pháp Không là Bí- sô Tiên Thọ.
Lại có Thanh văn đối với pháp Không luôn phát sinh sự tín giải sâu xa là Bí-sô Tôn-na.
Lại có Thanh văn đạt đầy đủ thần thông ngay nơi quả chứng của mình là Bí-sô Ma-hạ-ca.
Lại có Thanh văn khéo léo quán sát điệu nghĩa của tám nẻo giải thoát là Bí-sô Tín Trọng.
Lại có Thanh văn ngay trong các pháp uy nghi tỏa ra diệu sắc ưa thích là Bí-sô Mộ-hạ-ra-nhã.
Lại có Thanh văn luôn diễn nói rộng về các diệu lý, có đầy đủ quyến thuộc lớn là Bí-sô Tán-nhã-duệ.
Lại có Thanh văn đạt đầy đủ định tuệ, thường thọ nhận trời, người cúng dường là Bí-sô Thiện Hiện.
Lại có Thanh văn phát tâm xuất gia ưa tu tập Thánh hạnh là Bí-sô Tỳ-xá-la.
Lại có Thanh văn nhân duyên khổ mà phát tâm xuất gia là Bí-sô Một-lộc-trì-ca-bà-ra-đặc-nhã.
Lại có Thanh văn vì chán ghét muốn xa lìa nẻo luân hồi nên cầu xuất gia là Bí-sô Tôn-na-lý-ca Đế-lý-dã-cô.
Lại có Thanh văn giác ngộ về các pháp thế gian là không bền vững, chắc chắn, sinh tâm nhàm chán là Bí-sô Tôn-na-lý-ca Bà-ra-đặc-nhã.
Lại có Thanh văn trong sự yên lặng nghĩ ngơi dáng điệu luôn đoan chánh là Bí-sô Tát-thát-sắc-cô-ca.
Lại có Thanh văn luôn tu trì thanh tịnh tánh thuần hậu, ít biện bác là Bí-sô Ô-ba-nhĩ-ca.
Lại có Thanh văn thường riêng một mình dốc tinh tấn đầy đủ các hạnh tịch tĩnh là Bí-sô Nan-hỷ-ca. Lại có Thanh văn khéo tu tập các pháp định tuệ, đạt được giải thoát lớn lao là Bí-sô Cảnh-tất-la.
Lại có Thanh văn đối với người ngu si mê lầm làm cho họ có thể đạt thanh tịnh là Bí-sô Long Hộ.
Lại có Thanh văn thường tu tịnh hạnh, xuất gia cuối cùng là Bí- sô Tu-bạt-đà-la.
Thế Tôn nói kệ:
Phạm hạnh ít tham dục
Trí tuệ với thần thông
Thiên nhãn và đa văn
Thanh tịnh dốc giữ luật
Bốn uy nghi an lạc
Đủ tiếng sư tử rống
Tin hiểu rất sâu xa
Giải phân biệt kinh luật
Vinh hiển cho tộc họ
Đủ tiếng lớn vi diệu
Sức tinh tấn khó lường
Khôn khéo làm luận giải
Có thần lực mau lẹ
Linh tháp thọ thỉnh trước
Nói thẳng, hành động chính
Giáo giới cho Tăng, Ni
Các căn thường ẩn mật
Luôn giữ giới thanh tịnh
Thân thể ít đau bệnh
Thường làm việc bố thí
Ít nói thường im lặng
Đầy đủ túc mạng trí
Nằm ngồi đều đầy đủ
Thường vui sống núi rừng
Đoạn phiền não đã sinh
Ngăn phiền não chưa hiện
Thường nhập Tam-ma-địa
Đại Từ và lợi ích
Trừ hẳn các lỗi lầm
Lòng Bi đoạn vòng khổ
Thường hành các pháp thiện
Mau trừ tướng ngã mạn
Dốc đoạn tham, sân, si
Các lợi căn thanh tịnh
Giải rõ pháp nhân quả
Luôn hỏi lý sâu xa
Các căn đều thuận hợp
Đầy đủ đại biện tài
Hỏi mẹ nghĩa sâu xa
Trình bày đều chân thật
Khéo kết tập kệ tụng
Đầy đủ sức nhẫn nhục
Thấu đạt được bản thân
Xem tướng tất biết rõ
Đủ nhẫn nhục hoan hỷ
Ý muốn thường tự tại
Thâm nhập cửa diệu pháp
Khéo dùng tuệ giải tâm
Thuyết rộng pháp vi diệu
Diễn pháp theo thứ lớp
Giảng rộng pháp không mệt
Luôn đầy đủ hoan hỷ
Chứng trí tuệ giải thoát
Đạt định tuệ giải thoát
Đã trừ sạch tham dục
Thâm nhập giải thoát môn
Thông tỏ, tự tín giải
Tối thắng trong thế gian
Phá được ngoại đạo luận
Khai hóa hết ngu si
Thường quá các ma quân
Xuất gia xả khổ não
Trí thanh tịnh ít trần
Đủ các căn viên mãn
Hiểu pháp không, bất nhị
Đắc đủ sức thần thông
Quán thông tám giải thoát
Vui nhận y diệu sắc
Có quyến thuộc to lớn
Nhận trời người cúng dường
Vì lòng tin xuất gia
Thường hành hạnh bình đẳng
Chán đời, vui xuất gia
Rất nhàm khổ luân hồi
Thường hành tâm tịch tĩnh
Đủ thiểu phần biện tài
Sinh hoạt thường yên tịnh
Hạnh giải thoát rất sâu
Thanh tịnh cho người ngu
Đủ công đức như vậy.
Nên gọi A-la-hán.
Thế Tôn nói kệ xong, bảo các Bí-sô:
–Trong chúng này, có mười vị là đại Thanh văn. Nay Ta sẽ nói, các ông hãy lắng nghe.
Đó là Bí-sô Kiều-trần-như, Bí-sô Ca-chiên-diên, Bí-sô Phú- lâu-na, Bí-sô Bạt-câu-la, Bí-sô Ly-bà-đa, Bí-sô Ương-quật-ma-la, Bí-sô Da-thâu-na, Bí-sô Tô-nhã-đa, Bí-sô Cổ-chỉ-yết-lan-nô, Bí-sô Phệ-xá-ly. Mười đại Thanh văn này là bậc Thượng thủ trong chúng Thanh văn.
Thế Tôn lại bảo các Bí-sô:
–Nay Ta tán dương các đại Thanh văn Bí-sô-ni, tu hành đạt đức độ ở quả vị của mình. Trong các Bí-sô-ni của ta, có đại Thanh văn Bí-sô-ni, từ bỏ vương tộc xuất gia đã lâu, uy nghi thanh tịnh, thường tu phạm hạnh là Bí-sô-ni Ma-ha Ba-xà-ba-đề.
Thiểu dục, tri túc, hành hạnh Đầu-đà là Bí-sô-ni Bát-thát-tả- ra. Trí tuệ sâu rộng, có đại biện tài là Bí-sô-ni Thiện Tướng. Thường hành thiện, uy đức không đổi là Bí-sô-ni Liên Hoa Sắc.
Dốc tâm tu trì, khéo đạt Thiên nhãn là Bí-sô-ni Tô-ma. Tu tập về văn tư tuệ, có được sự hiểu biết rộng lớn là Bí-sô-ni Thâu-bà-yết-lý-ma-ra nữ. Nghiêm trì giới luật, đầy đủ khuôn phép là Bí-sô-ni Ngật-lý-xá.
Có khả năng trình bày giỏi các diệu pháp là Bí-sô-ni Thí Pháp. Thường dùng lòng từ bi để tuyên dương các diệu pháp là Bí-sô-ni Thích nữ Đạt-ma. Tinh tu Thánh đạo làm vẻ vang cho dòng họ là Bí-sô-ni Đại Bạch. Tín cầu quả lớn, tín tâm xuất gia là Bí-sô-ni, mẹ trưởng giả Thất-kha-la-ca. Trồng nhân tốt từ đời trước nên có đủ phước đức lớn là Bí-sô-ni Da-thâu-đà-la, mẹ của La-hầu-la. Thường ái mộ sự tu trì, có đầy đủ sự tinh tấn lớn lao là Bí-sô-ni Loa Kế. Tự nói quả chứng thông đạt đầy đủ là Bí-sô-ni Hiền. Trí tuệ sâu xa, giải rõ kinh luật là Bí-sô-ni Diệu Cảnh. Các Bí-sô-ni này là bậc Thượng thủ trong đại chúng.
Bấy giờ Thế Tôn lại nói với các Bí-sô:
–Các ông hãy lắng nghe, Ta sẽ nêu lên những Ô-ba-tát-ca (Cận sự nam) có tín tâm tu hành theo hạnh của mình. Phát lòng tin quy y Tam bảo đầu tiên là Ô-ba-tát-ca Bố-tát, Ô- ba-tát-ca Bạt-lê ở Ô-lỗ-vĩ-loa. Hành trì đầy đủ thanh tịnh giới pháp là Ô-ba-tát-ca, cha của Na-cô-la ở Bà-nghĩ-sác. Thường cúng dường Tăng chúng là trưởng giả Cấp Cô Độc ở thành Xá-vệ. Từng tu nhân bậc Thánh, có đủ phước đức lớn là trưởng giả Thiện Thọ ở thành Xá-vệ. Thường cúng dường y phục, thực phẩm đến chúng Tăng là trưởng giả Tối Thủ ở thành Quảng nghiêm.
Đối với Phật, Pháp, Tăng thường bố thí đủ các loại là trưởng giả Đồng Sinh ở thành Vương xá. Thường chu cấp thuốc cho người đau bệnh là trưởng giả Đại Danh ở thành Ca-tỳ-la. Thường hành hạnh Từ bi từ nơi tín tâm là trưởng giả Mật-trà-ca ở thành Đại hiền. Thường dùng bốn Nhiếp pháp giáo hóa các hội là trưởng giả Tâm-hạ-tất-đa-ca và A-thát-phược-ca, đồng ở Đại dã.
Khi mới phát lòng tin đã đủ đại trí là trưởng giả Ô-ba-ly ở thành Na-lan-đà.  Có thể giữa hội chúng rống lên tiếng sư tử để đàm luận là trưởng giả Dũng Mãnh ở thành Vương xá. Có đại trí tuệ, giỏi luận bàn, phá luận sư ngoại đạo, là trưởng giả Nột-lý-mục-kha-lật-sai-vĩ ở thành Quảng nghiêm. Thường giảng pháp thuyết vi diệu cho đại chúng là trưởng giả Tức-đát-lỗ ở thành Tô-ba-la-ca.
Khi đàm luận, đầy đủ biện tài là vua Thắng Quân ở đô thành Xá-vệ. Trong những người tín tâm, có lợi căn đệ nhất là em vua Khalộ ở thành Xá-vệ. Trong những người có tín tâm, có đầy đủ trí tuệ lớn là Tiên thọ Ô-ba-tát-ca ở thành Xá-vệ.
Trong những người có tín tâm thường tu phạm hạnh là Ô-batát-ca Bố-ra-noa ở thành Xá-vệ. Đầy đủ các thứ châu báu, kho tàng phong phú, lãnh đạo nhân dân đa văn đệ nhất là vua Tần-bà-sa-la nước Ma-già-đà, kinh đô là
thành Vương xá. Thân cận Tam bảo phát tâm Bồ-đề, ở thế gian có nhiều con cái là trưởng giả Nhĩ-phược-ca ở thành Vương xá. Tín tâm, tinh tấn, thông đạt mau lẹ là vương tử Vô Úy ở thành Vương xá. Từ bỏ việc cũ, sinh tâm tín giải là vua A-xà-thế, con bà Vi-đề-hy ở nước Ma-già-đà, kinh đô là thành Vương xá.
Những Ô-ba-tát-ca này là bậc Thượng thủ trong đại chúng. Thế Tôn lại bảo các Bí-sô:
–Các ông lắng nghe, nay Ta nói về Ô-ba-tát-kết (Cận sự nữ), là những người có tín tâm theo đạo của mình. Đó là:
Người phát lòng tin đầu tiên quy y Phật, Pháp, Tăng là Ô-batát-kết Nan-na và Ô-ba-tát-kết Nan-na-lực ở Ô-lỗ-vĩ-loa.
Khi mới phát tâm đã tin hiểu giới pháp là mẹ trưởng giả Nặccô-la, ở Bà-nghĩ-sắc. Thường cúng dường đến chúng Tăng là Ô-batát-kết, mẹ của Tỳ-xá-khư ở thành Xá-vệ.  Tiền kiếp bố thí gieo nhân giàu có đầy đủ phước đức lớn là mẹ của trưởng giả Lý-đề-la ở thành Xá-vệ. Lo tìm kiếm thuốc thang cung cấp cho người bệnh khổ là vợ của trưởng giả Đại Quân ở thành Ba-la-nại.
Đối với người bệnh thường chăm sóc là vợ trưởng giả Thiện Ái, ở thành Ba-la-nại. Phát lòng tin đã lâu, thường hành Từ hạnh là Ô-ba-tát-kết Nạima-phược-đế, ở nước Kiều-diệm-di. Ở giữa chúng hội, đa văn đệ nhất là Ô-ba-tát-kết Cô-một-nhu- đát ra, ở nước Kiều-diệm-di. Có đại biện tài thường giảng diệu pháp một cách thiện xảo là vương nữ Thiện Ý, ở thành Xá-vệ. Phát tín tâm đã lâu, đầy đủ đại trí là vương nữ Tôn-na ở thành Vương xá. Về hình tướng là người xinh đẹp đoan nghiêm nhất, là Vương nữ Chánh Giác ở thành Vương xá.
Ý thường tin hiểu khéo phát tâm Bồ-đề là vợ trưởng giả Một- đát-na ở thành Vương xá. Sống trong thế gian, có nhiều con cái nên người là vợ của trưởng giả Nhĩ-phược-ca, ở thành Vương xá.
Thường khéo siêng năng tu trì, đầy đủ tinh tấn, là vợ của trưởng giả Suất-lỗ-nô, ở thành Chiêm-ba. Thường cúng dường chỗ ở cho chúng Tăng là con gái của trưởng giả Nan-na, ở trong rừng Trúc. Phát tín tâm đã lâu, hiểu sâu xa về thiền định là Ô-ba-tát-kết Kha-lộ ở rừng Trúc.
Những Ô-ba-tát-kết này là bậc Thượng thủ trong đại chúng.
Bấy giờ chúng đại Bí-sô và các hàng Trời, Người, A-tu-la… nghe Phật dạy, đều rất hoan hỷ, tín thọ phụng hành.HET=NAM MO A DI DA PHAT.( 3 LAN ).NIEM PHAT DUONG KIM LIEN.THICH NU TAM GIAC.AUSTRALIA,SYDNEY.1/7/2017.
PHẬT NÓI
KINH A-HÀM CHÍNH-HẠNH (1)


Chính tôi được nghe: một thời kia đức Phật ở trong vườn cây của ông Kỳ-Đà và ông Cấp-Cô-Độc, thuộc nước Xá-Vệ.
Bấy giờ, đức Phật bảo các vị Tỳ-Khưu: Nay ta sẽ vì các ông nói về kinh. Trong kinh, lời nói cao-thượng cũng quý, lời nói trung-bình cũng quý, lời nói rất thấp cũng quý. Mà, nói về đạo độ thế, cần lấy “chính tâm làm gốc”. Các ông hãy nghe ta nói và để cho đời sau được truyền-bá, thực-hành theo lời kinh ấy.
Khi ấy, các vị Tỳ-Khưu đều chắp tay thụ-giáo.
Đức Phật dạy: Trong thân người ta có năm thứ giặc, thường lôi kéo người ta vào đường ác. Năm thứ giặc ấy là những gì?
Một là, sắc (hình-sắc).
Hai là, đau-đớn (thụ: chịu đựng).
Ba là, tư-tưởng.
Bốn là, sinh-tử (hành-động).
Năm là, thức (nhận-thức). (2)
Đó là năm thứ mà người ta thường niệm đến.
Đức Phật dạy: Người ta thường bị mắt lừa-dối, tai lừa-dối, mũi lừa-dối, miệng lừa-dối và bị thân lừa-dối. Song, mắt chỉ trông được, không thể nghe được; tai chỉ nghe được, không thể trông thấy được, mũi chỉ biết ngửi hương-vị không thể nghe được; miệng lưỡi chỉ biết nếm mùi, không thể biết được hương-vị; thân-thể chỉ biết lạnh, ấm, không thể biết được mùi. Năm căn ấy đều thuộc về “tâm” và lấy “tâm” làm gốc. (3)
Đức Phật dạy: Các vị Tỳ-Khưu! Các ông muốn cầu đạo, các ông nên đoan-chính tâm các ông. Nếu từ nơi si-mê phát-khởi, hẳn sẽ sa rơi vào mười hai nhân-duyên và liền có ra sự sinh-tử luân-hồi. Những gì là mười hai nhân-duyên? – Một là, căn-bản là si-mê (vô-minh). Hai là, hành (hành-động). Ba là, thức (nhận-thức). Bốn là, tự (danh-tự hay danh-sắc) (4). Năm là, lục-nhập (5). Sáu là, tài (tài-bồi, có chỗ gọi là xúc) (6). Bảy là thống (đau-khổ, có chỗ gọi là thủ). Tám là, ái (yêu). Chín là, thụ (cảm-thụ). Mười là, hữu (7). Mười một là, sinh. Mười hai là tử (8). Người làm việc thiện, sẽ được làm người. Người làm việc ác, chết phải vào trong địa-ngục, ngã-quỷ, súc-sinh.
Đức Phật ngồi suy-nghĩ và nói: “Người ta do si-mê, nên có ra sự sinh-tử”. Si là gì? – Trước đây do từ trong si-mê, nên nay sinh làm người. Làm người, tâm si-mê không cởi-mở, mắt không khai tỏ, không biết chết đi sẽ xu-hướng về nơi nào; thấy Phật không hỏi, thấy kinh không đọc, thấy bậc Sa-Môn (9) không biết thừa-sự, không tin đạo-đức; thấy cha mẹ không kính; không nghĩ đến nỗi khổ của thế gian, không biết sự tra-khảo, trừng-trị kịch-liệt trong địa-ngục, thế gọi là si-mê, nên có ra sự sinh-tử. Và, sự sinh-tử không ngừng, nhanh như thời-gian hô-hấp, nguy-hiểm ngay đến thân-mệnh người ta. Trong thân người ta có ba sự, sau khi thân chết đi thời Thức đi, Tâm đi và Ý đi. Trong ba sự ấy, thường theo-đuổi nhau. Người làm việc ác, chết phải sa vào trong địa-ngục, ngã-quỷ, súc sinh và quỷ-thần. Người làm việc thiện cũng có ba sự ấy thường theo-đuổi nhau, hoặc sinh lên cõi Trời, hoặc sinh trong cõi người. Những người bị sa-đọa vào trong năm đường (10), đều vì tâm không được đoan-chính.”
Đức Phật bảo các vị Tỳ-Khưu: Các ông đều phải nên đoan-chính tâm các ông, đoan-chính mắt các ông, đoan-chính tai các ông, đoan-chính mũi các ông, đoan-chính miệng các ông, đoan-chính thân các ông và đoan-chính ý các ông. Thân-thể sẽ tan-hòa với đất, nhưng khối thần-thức sẽ không phải vào trong địa-ngục, ngã-quỷ, súc-sinh, quỷ-thần.
Thấy nhà người ta có người con ác, bị quan nã-bắt, cũng đều vì tâm không được đoan-chính. Trong thân người ta có đến trăm tên gọi, như xe cũng có trăm tên gọi. Người hay tham, hay giận, không suy-nghĩ gì đến những sự trong thân, chết vào trong địa-ngục, hối không kịp được.
Đức Phật dạy: Thân ta xa-lìa đất nước, bỏ ngôi Chuyển-Luân-Vương lo cắt đứt sinh-tử, muốn độ những người thế-gian, khiến họ được đạo-quả Niết-Bàn. Người tinh-tiến thứ nhất sẽ được đạo-quả A-La-Hán; người tinh-tiến thứ hai tự đến được đạo-quả A-Na-Hàm. Người tinh-tiến thứ ba được đạo-quả Tư-Đà-Hàm. Người tinh-tiến thứ tư được đạo-quả Tu-Đà-Hoàn (11). Tuy thế, người không tinh-tiến lắm được, cũng cần nên giữ năm điều răn: Một là, không sát sinh. Hai là, không trộm-cắp. Ba là, không hai lưỡi. Bốn là, không dâm-dật. Năm là, không uống rượu (12).
Đức Phật dạy: Người ta dù khi ngồi, khi dậy, thường nên suy-nghĩ bốn việc này. Bốn việc ấy là những gì?
– Một là, tự quán thân mình và quán thân người.
– Hai là, tự quán sự đau-đớn nơi mình và quán sự đau-đớn nơi người.
– Ba là, tự quán tâm-ý nơi mình và quán tâm-ý nơi người.
– Bốn là, quán pháp nơi mình và quán pháp nơi người (13).
Người mà trong tâm khi sắp loạn-động, nên thu tâm lại, tự đoan-chính nhìn thẳng vào thân-thể, quán-tưởng rằng: “Thân này, no cũng cực, đói cũng cực, ở cũng cực, ngồi cũng cực, đi cũng cực, rét cũng cực, nóng cũng cực, nằm cũng cực. Khi sắp muốn nằm, nên tự sợ hãi ngồi dậy! Người ngồi không được đoan-chính, nên đứng dậy. Người đứng không được đoan-chính, nên kinh-hành. Người mà thảng hoặc tâm không được đoan-chính, nên tự chính. Ví như Quốc-Vương đem binh ra trận chiến-đấu, phải dàn những quân mạnh-mẽ ở đằng trước; tuy đã chống giặc ở khu trước, lại phải thích-hợp, có thể gìn-giữ được những người ở sau. Vị Sa-Môn đã bỏ nhà cửa, bỏ vợ con, cạo râu tóc làm Sa-Môn, tuy chịu khổ một đời, sau được giải-thoát mãi mãi. Người khi đắc đạo rồi, trong tâm mình vui vẻ, coi vợ như chị, em, coi con như bạn tri-thức, không còn có tâm tham-ái và thường rủ lòng lành thương; coi chư Thiên, nhân-dân, địa-ngục, ngã-quỷ, súc-sinh, cùng những loài sâu bay, bọ cựa trong mười phương, đều được giàu sang, an-lành, thoát khỏi sinh-tử, được đạo-quả Niết-Bàn. Thấy những loài sâu dưới đất, nên đem lòng từ thương xót nó. Biết lẽ sống, không vướng lại sự si-mê và thường có ý-niệm này: thường nghĩ ân-đức Thầy, phụng-sự Phật, như người nghĩ đến công ơn cha mẹ, như người tù bị tội tử-hình giam trong ngục, có bậc Hiền-giả đến xin cho khỏi bị tù; người bị tù có trí hiểu-biết, thường nghĩ đến ân đức bậc Hiền-giả. Vị Tỳ-Khưu được đạo-quả rồi, thường cũng phải nghĩ đến Phật như thế và nghĩ đến kinh-pháp cũng như người nghĩ đến việc ăn cơm vậy.
Đức Phật dạy: Các vị Tỳ-Khưu nên thừa sự nhau, như em thờ anh. Trong ấy, nếu có người si-mê, nên học-hỏi người trí-tuệ; đắp-đổi dạy lẫn nhau. Học hỏi người trí-tuệ như trong nơi tối có ánh đèn. Không được cãi-cọ, kiện-cáo nhau. Thấy vàng bạc nên coi như đất, đá. Không được làm chứng càn cho người ta, ghép người ta vào tội-pháp. Không được truyền lời nói xấu của người ta và chuyển lời nói đấu-tranh nhau. Không được làm thương-tổn trong ý nói của người ta. Không nghe thấy đừng nói là nghe thấy, không trông thấy đừng nói là trông thấy. Đi đường thường nên cúi đầu trông xuống đất. Sâu-bọ không nên dẫm chết. Không được tham-đắm phụ-nữ người ta và không được dùng hình-bóng phụ-nữ người ta. Ngồi tự suy-nghĩ: “Bỏ tâm tham-ái, mới được gọi là đạo”.
Đức Phật dạy: Người muốn cầu đạo, nên cầu ở chốn không-nhàn vẳng-lặng, tự hô-hấp hơi thở nơi mình, biết cách thở dài, ngắn; thở ra không hít vào, hình-thể đều mệt, ngậm hơi không thở, hình-thể cũng mệt (14). Phân-biệt tự suy nghĩ: “Hình-thể này ai là người tạo-tác ra? Tâm nên xét ngoài, cũng nên xét trong. Tự suy nghĩ, vui-vẻ, cùng người ta có tâm khác hơn, thời trong khi ấy thấy không cần dùng những thứ trân-bảo của thiên-hạ nữa. Người, tâm hơi muốn theo chánh-đạo, ý lại muốn chút xao-động, nên nén dẹp, ngăn ngừa giữ lại ngay, thời ý liền hoàn lại. Ví như người có tấm gương, gương không sáng không thể thấy hình được, lau-chùi bụi nhơ trên gương, tự thấy hình ngay. Người ta bỏ được tham-dâm, giận-dữ, ngu-si cũng ví như tấm gương đã lau-chùi rồi. Suy nghĩ kỹ: “Thiên-hạ này đều không có cái chi là vững-bền và cũng không có cái chi là thường mãi.”
Đức Phật dạy: Các vị Tỳ-Khưu giữ-gìn tâm mình, nên như tảng đá vuông bốn mặt. Tảng đá ở giữa sân, mưa rơi cũng không hoại được, ánh mặt trời thiêu đốt cũng không tan được, gió thổi cũng không chuyển được. Gìn giữ tâm thường như tảng đá ấy.
Đức Phật bảo các vị Tỳ-Khưu: Lòng người trong thiên-hạ cũng như nước chảy; trong giòng nước chảy ấy, có cỏ cây gì, đều tự trôi đi, không đoái nhìn lại nhau, thứ trôi trước không đoái nhìn lại thứ sau và thứ sau cũng không nhìn về thứ trước. Cỏ cây trôi đi, đều tự như thế. Lòng người cũng như thế, một niệm lại, một niệm đi, như cỏ cây trước, sau không nhìn lại nhau. Trong khoảng thiên thượng, thiên hạ này, không có cái gì ở chỗ nào lại vui trở lại. Gửi thân trong trời đất, bỏ thân này không sinh lại được. Đạo thành nên biết ơn thầy, thấy thầy liền thừa-sự, không thấy thầy nên suy-nghĩ lời răn dạy của thầy, như người nhớ nghĩ đến cha mẹ. Ý định có sự nhất tâm, liền có lòng thương-sót những loài sâu bay, bọ cựa cùng nhân-dân thiên-hạ. Và, ta ngồi ta tự vui cười là ta đã thoát thân trong thiên-hạ cùng năm đạo: một là Thiên-đạo, hai là Nhân-đạo, ba là Ngã-quỷ-đạo, bốn là Súc-sinh-đạo, năm là Địa-ngục-đạo. Người được đạo-quả A-La-Hán muốn phi-hành, biến-hóa cũng được; trong thân biến ra nước, lửa cũng được, ra chỗ kín mịn không kẽ hở, vào chỗ dầy-đặc không lỗ hổng cũng được và xa-lìa nỗi khổ thế-gian, chứng-đạo Niết-Bàn cũng được.”
Đức Phật bảo các vị Tỳ-Khưu: “Đạo không thể không làm, kinh không thể không đọc.”
Đức Phật nói kinh này rồi, năm trăm vị Sa-Môn đều được đạo-quả A-La-Hán. Các vị Sa-Môn ấy đều đứng dậy, tới trước đức Phật, đầu mặt cúi sát đất, làm lễ đức Phật mà lui.

(1) Kinh này là cuốn kinh số 151 trong Đại-Tạng-kinh. A-Hàm (Agama) gọi tóm-tắt kinh sách Tiểu-thừa. A-Hàm dịch là “Pháp-quy” là muôn pháp quay về nơi có nghĩa là vô-lậu; lại dịch là “vô-tỉ-pháp” có nghĩa là diệu-pháp không có gì sánh kịp, và dịch là “thú vô” có nghĩa là tôn-chỉ nói ra đạt tới chỗ rốt-ráo không còn có chỗ quy-thú nữa.
(2) Đây là nói về 5 uẩn: sắc, thụ, tưởng, hành và thức.
(3) Đây nói là sự phân-biệt giả-dối của năm căn và đều quy về tâm làm gốc.
(4) Danh-sắc: là nói báo thân trong thai tạng do tâm-thức (danh) và tứ đại (sắc) hòa-hợp, nương tựa nhau sinh trưởng.
(5) Lục-nhập: 6 căn xúc nhập với 6 trần.
(6) Vun trồng, tiếp xúc.
(7) Có sự tạo-tác kết thành nghiệp hữu-lậu.
(8) 12 nhân-duyên nơi đây so-sánh với nơi khác, phần danh-từ và thứ thự hơi có chút sai-biệt.
(9) Sa-Môn (Srmana): Xưa dịch là “Tức tâm, Tĩnh-chí, Bần-đạo v.v…” Nay dịch là “Công-lao, Cần-tức”, đều có nghĩa là vị tu-hành siêng-năng tu-tập, ngăn-dứt phiền-não nơi tâm, làm yên lặng, trong sạch thần-chí, có công cần-cù khó nhọc tiến tu về đạo giải-thoát (đạo Phật).
(10) 5 đường: Thiên, A-tu-la, Địa-ngục, Ngã-quỷ, Súc-sinh.
(11) Xem chú-thích nơi kinh Tội-Phúc Báo Ứng.
(12) Năm điều răn này so với chỗ khác có sự sai thứ-tự.
(13) Đây là nói về 4 chỗ quán-niệm (tứ niệm xứ): 1/ Quán thân không trong-sạch. 2/ Quán sự lĩnh-thụ là khổ. 3/ Quán tâm là vô thường. 4/ Quán pháp là vô ngã.
(14) Đây là nói về Sổ-tức-quán (cách đếm hơi thở).HET=NAM MO A DI DA PHAT.( 3 LAN ).NIEM PHAT DUONG KIM LIEN.THICH NU TAM GIAC.AUSTRALIA,SYDNEY.1/7/2017.