Khi nhắc đến các vị Thánh đệ tử thời Đức Phật tại thế, ắt hẳn chúng ta đều biết câu chuyện ngài Xá Lợi Phất (Sariputta) đến với đạo Phật nhờ bài kệ của Assaji.
Đó là khái niệm về duyên sinh đầu tiên mà ngài Xá Lợi Phất tiếp cận được, và ngài trực nhận đây là “điều cần tìm nay đã gặp”. Nghe xong, ngài Xá Lợi Phất đem lý “Có sinh thì có diệt” này về thuật lại cho người bạn cùng tìm chân lý là Mục Kiền Liên (Moggallana). Sau đó, cả hai xin Phật cho gia nhập Tăng-già, trở thành đệ tử.
Nhược pháp nhân duyên sinh Các pháp nhân duyên sinh
Pháp diệc nhân duyên diệt Cũng theo nhân duyên diệt
Thị sinh diệt nhân duyên Nhân duyên sinh diệt này
Phật Đại sa-môn thuyết. Phật Đại sa-môn thuyết.
Giáo lý Duyên khởi là định lý nói lên tính điều kiện giữa nhân và quả, giữa nhân và duyên của vạn pháp, hay là định lý pháp giới Trùng Trùng Duyên khởi. Định lý của lý Duyên khởi được đức Phật dạy là:
Paticca - Samupàda Lý Duyên Sinh
Imasmịm sati, idạm hoti; Cái này có, cái kia có
Imass' uppàdà, idạm uppajjti. Cái này không, cái kia không
Imassmịm asati, idạm na hoti; Cái này sinh, cái kia sinh
Imassa nirodha, idạm nirujjhati; Cái này diệt, cái kia diệt
Định lý Duyên khởi này được định nghĩa như vậy đối với vạn sự, vạn vật. Nhưng đối với hữu tình chúng sanh, Phật dạy giáo lý thập nhị nhân duyên, tức 12 duyên bao gồm cả nhân quả Duyên khởi.[1]
Tức là sự tồn tại của mọi sự vật, sự việc chịu phụ thuộc nhau một cách nào đó, có liên hệ mật thiết nhau theo 12 mắc xích, chứ không thể nào độc lập và bất biến, thường hằng. Hay sự hiện hữu của mọi sự vật, mọi sự việc do nhân duyên hội đủ mà thành và do nhân duyên khiếm khuyết mà tan rã.
Trong Trung Bộ Kinh, bài kinh 115, tựa đề Đa Giới Bahudhàtuka sutta, Đức Phật xác quyết bốn pháp môn (Giới, Xứ, Duyên khởi, Xứ và Phi xứ) là Trống bất tử, là Vô thượng chiến thắng và là pháp môn mà chúng Tăng cần phải thọ trì. Riêng về phần Duyên Khởi trong bài kinh này, Đức Phật dạy:
Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo biết như sau: Nếu cái này có, cái kia có; do cái này sanh, cái kia sanh. Nếu cái này không có, cái kia không có; do cái này diệt, cái kia diệt. Tức là vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu; hữu duyên sanh; do duyên sanh lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Như vậy, này Ananda, là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
Nhưng do sự diệt trừ, sự ly tham hoàn toàn của chính vô minh này, các hành diệt; do các hành diệt, danh sắc diệt; do danh sắc diệt, lục nhập diệt; do lục nhập diệt, xúc diệt; do xúc diệt, thọ diệt; do thọ diệt, ái diệt; do ái diệt, thủ diệt; do thủ diệt, hữu diệt; do hữu diệt, sanh diệt; do sanh diệt, lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não đoạn diệt. Như vậy là sự đoạn diệt hoàn toàn của khổ uẩn này. Cho đến như vậy, này Ananda, là vừa đủ để nói: "Tỷ-kheo thiện xảo về duyên khởi".[2]
Cụ thể hơn, trong Tương Ưng Bộ Kinh, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I, Tương Ưng Nhân Duyên, Phẩm Phật Ðà, Đức Phật chỉ cho chúng ta con đường của Mười Hai Nhân Duyên như sau:
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là già, chết? Cái gì thuộc chúng sanh này hay chúng sanh khác, thuộc bộ loại chúng sanh này hay thuộc bộ loại chúng sanh khác, bị già, yếu, suy nhược, răng rụng, tóc bạc, da nhăn, tuổi thọ tàn lụi, các căn chín muồi. Ðây gọi là già. Cái gì thuộc chúng sanh này hay chúng sanh khác, thuộc bộ loại chúng sanh này hay thuộc bộ loại chúng sanh khác, sự từ bỏ, hủy hoại, tiêu mất, tử vong, các uẩn hư hoại, thân thể vứt bỏ. Ðây gọi là chết. Như vậy, đây là già, đây là chết. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là già, chết.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sanh? Cái gì thuộc chúng sanh này hay chúng sanh khác, thuộc bộ loại chúng sanh này hay thuộc bộ loại chúng sanh khác bị sanh, xuất sanh, giáng sanh, đản sanh, sự xuất hiện các uẩn, sự thành tựu các xứ. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là sanh.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hữu? Này các Tỷ-kheo, có ba hữu này: Dục hữu, Sắc hữu, Vô sắc hữu. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hữu.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thủ? Này các Tỷ-kheo, có bốn thủ này: dục thủ, kiến thủ, giới cấm thủ, ngã luận thủ. Này các Tỷ- kheo, đây gọi là thủ.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ái? Này các Tỷ-kheo, có sáu ái này: sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái. Này các Tỷ- kheo, đây gọi là ái.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thọ? Này các Tỷ-kheo, có sáu thọ này: thọ do nhãn xúc sanh; thọ do nhĩ xúc sanh; thọ do tỷ xúc sanh; thọ do thiệt xúc sanh; thọ do thân xúc sanh; thọ do ý xúc sanh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là thọ.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là xúc? Này các Tỷ-kheo, có sáu xúc này: nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là xúc.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sáu xứ? Nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, thiệt xứ, thân xứ, ý xứ. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là sáu xứ.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là danh sắc? Thọ, tưởng, tư, xúc, tác ý; đây gọi là danh. Bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo ra; đây gọi là sắc. Như vậy, đây là danh, đây là sắc. Ðây gọi là danh sắc.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thức? Này các Tỷ-kheo, có sáu thức thân này: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là thức.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hành? Này các Tỷ-kheo, có ba hành này: thân hành, khẩu hành, ý hành. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hành.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là vô minh? Này các Tỷ-kheo, không rõ biết Khổ, không rõ biết Khổ tập, không rõ biết Khổ diệt, không rõ biết Con đường đưa đến Khổ diệt. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là vô minh.[3]
Khi ngài Phú Lâu Na (Punna Maitrayaniputra) xin đến xứ Sunaparanta giáo hóa, những lời giáo giới vắn tắt Đức Thế Tôn ban cho ngài cũng không ngoài Mười Hai Nhân Duyên. Ngài Phú Lâu Na đã lấy đó làm tư lương để thực hành khi sống một mình trên con đường hoằng hóa. Lúc ngài Phú Lâu Na mệnh chung, Đức Phật cho biết ngài đã chứng Tam minh và nhập Niết Bàn..[4]
– Này Punna, có những sắc do mắt nhận thức, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo hoan hỷ tán thưởng, chấp thủ và an trú trong ấy, thời do hoan hỷ tán thưởng, chấp thủ và an trú, dục hỷ sanh; và này Punna, Ta nói rằng, từ sự tập khởi của dục hỷ, là sự tập khởi của khổ. Này Punna, có những tiếng do tai nhận thức; có những hương do mũi nhận thức; có những vị do lưỡi nhận thức; có những cảm xúc do thân nhận thức; có những pháp do ý nhận thức; khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo hoan hỷ, tán thưởng, chấp thủ và an trú trong ấy, thời do hoan hỷ, tán thưởng, chấp thủ và an trú tham đắm, dục hỷ sanh; và này Punna, Ta nói rằng, từ sự tập khởi của dục hỷ, là sự tập khởi của khổ.
- Này Punna, có những sắc do mắt nhận thức, khả ái, khả lạc, khả hỷ, khả ý, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo không hoan hỷ, không tán thưởng, không chấp thủ và an trú, thời dục hỷ diệt. Này Punna, Ta nói rằng, từ sự diệt tận dục hỷ là sự diệt tận đau khổ. Này Punna, có những tiếng do tai nhận thức; có những hương do mũi nhận thức; có những vị do lưỡi nhận thức; có những cảm xúc do thân nhận thức; có những pháp do ý nhận thức, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo không hoan hỷ, không tán thưởng, không chấp thủ và an trú, thời dục hỷ diệt. Này Punna, Ta nói rằng, từ sự diệt tận dục hỷ, là sự diệt tận đau khổ.[5]
Mắt chúng ta vô tội, sắc trần vô tội, chỉ vì khi chúng ta tiếp cận, chúng ta khởi lên yêu ghét – yêu thì muốn nắm giữ, ghét thì muốn xua đuổi – từ đó mà sinh ra muôn vàn rắc rối cho chính mình và cho chung quanh. Mà yêu - ghét khởi lên trong tâm do cảm nhận cá thân hay do thành kiến xã hội, đều không thể là chân lý.
Hoặc ngay chính thân ta, tuy chúng ta cũng nói rằng thân này là thân tứ đại do đất, nước, gió, lửa hợp thành, nhưng khó ai ngắm nhìn thân này bằng cái nhìn như một người đồ tể thiện xảo, hay đệ tử của một người đồ tể giết một con bò, ngồi cắt chia từng thân phần tại ngã tư đường; cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo quán sát thân này về vị trí các giới và về sự sắp đặt các giới: "Trong thân này có địa đại, thủy đại, hỏa đại và phong đại" (!).[6]
Cũng chỉ vì chấp thủ thức, tin tưởng thức của ta là lẽ phải, nên tà kiến và thân kiến phát sinh trong tâm ta như sau: Cái này là ngã, cái này là thế giới, cái này sau khi chết sẽ thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại.
Thật vậy, cái đáng yêu nhất, thần thánh nhất đối với mỗi con người là chính bản thân mình. Ai cũng muốn và luôn tin rằng mình đẹp nhất, giỏi nhất, thông minh nhất, tử tế nhất, trí tuệ nhất, tu hành nghiêm túc nhất, giới hạnh hoàn hảo nhất … Nhưng thực tế đâu phải là thế bao giờ! Chính vì chấp có một cái Ngã vĩ đại ấy mà chúng ta cứ trôi nổi trong ba cõi sáu đường, thấy mình khác với người khác, khi hơn thì mừng vui khôn xiết, khi thua thì mang sầu khôn nguôi và lúc ngang bằng thì hậm hực, bức bối!
Khi một người cứ khư khư chăm chút, bảo vệ cái Ngã ấy, sẽ chẳng còn nhớ đến nhân duyên, chẳng còn nghĩ đời là giả hợp, chẳng tin mọi sự vô thường. Có khi chúng ta còn có những quan niệm lệch lạc như cúng Phật thật nhiều hoa để kiếp sau có nhan sắc tuyệt vời; bố thí, phóng sinh cho nhiều để kiếp sau có nhiều người phụng sự, phục tùng; tụng kinh nhiều để có giọng nói quyến rũ, giọng hát độc đáo; ngồi thiền nhiều để mau chứng đắc… Đó chính là Tham Ái, ràng buộc chúng ta vào khát vọng tràn bờ của lòng tham muốn, vào biển sinh tử trầm luân, vào tù ngục vô minh.
Nhà thơ Chế Lan Viên có những câu thơ về cái Ta như sau:
Hồn của ai trú ẩn ở đầu ta ?
Ý của ai trào lên trong đáy óc,
Để bay đi theo tiếng cười, điệu khóc?
Biết làm sao giữ mãi được ta đây?
Thịt cứ chiều theo thú dục chua cay !
Máu cứ nhảy theo nhịp cuồng kẻ khác !
Mắt theo rõi tinh hoa bao màu sắc !
Đau đớn thay cho đến cả linh hồn
Cứ bay tìm Chán nản với U Buồn
Để đỉnh sọ trơ vơ tràn ý thịt !
mà phải đâu đã đến ngày tiêu diệt!
Ai bảo giùm: Ta có có Ta không?
Hoặc:
"Ta là ai ?" như ngọn gió siêu hình
Câu hỏi hư vô thổi nghìn nến tắt.
Tâm trạng hoang mang, bế tắc, tự hỏi như thế là điều dễ gặp trên đời vì con người thường nhìn vào hiện tượng, tự kết vào tâm mình, xem đó là mình, là buồn vui của mình, là hạnh phúc đau khổ của mình, là cá tánh của mình, là nét độc đáo của mình. Nhưng Đức Phật gọi đó là Vô Minh.
Vâng, chỉ khi nào phá vỡ Vô Minh, chúng ta mới thoát khỏi sông Mê lưới Khổ.. Nhưng quả là khó! Vô Minh là cái gì sâu dày, khó phá vỡ vì được cấu tạo bằng một tố chất rắn rỏi, cứng chắc tựa kim cang – đó là Ngã! Cái Ngã khiến ta đắm đuối, vui theo, cái Ngã cũng khiến ta sợ hãi, hóa rồ hay ghìm chặt mối thù truyền kiếp! Kho tàng tục ngữ ta cũng có những câu lý thú như Đánh được người mặt đỏ như vang, không đánh được người mặt vàng như nghệ!
Ngã là một ảo giác, một tình cảm ưu ái về bản thân. Đức Phật dạy ngài Kotthika rằng vị Tỷ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn (sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn) là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã. Và Tỷ-kheo giữ giới do như tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả Dự lưu, quả Nhất lai, quả Bất lai và quả A la hán, tu tập những pháp này sẽ đưa đến hiện tại lạc trú và chánh niệm tỉnh giác.[7]
Nghĩa là đích đến của những người học Phật là đối trị tham sân si, chấp Ngã, là diệt khổ. Đức Phật luôn luôn bảo rằng “Chư Tỷ kheo, xưa cũng như nay, Ta chỉ nói lên sự khổ và sự diệt khổ.”
Khi nào vị Ða văn Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo, như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của năm thủ uẩn này, vị Ða văn Thánh đệ tử ấy, này các Tỷ-kheo, được gọi là vị Dự lưu, không còn bị thối thất, đã được quyết định, hướng đến Chánh Ðẳng Giác.
Và khi nào vị Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm, sự xuất ly của năm thủ uẩn này, được giải thoát không có chấp thủ. Vị Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, được gọi là vị A-la-hán, các lậu hoặc được đoạn tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích, hữu kiết sử đã được đoạn tận, được giải thoát nhờ chánh trí.[8]
Chúng ta chưa đạt được Thánh quả nhưng nếu chúng ta quyết tâm đi về nơi cao thượng, chúng ta phải cố gắng chiêm nghiệm Duyên khởi, Vô Ngã, để thấy tận tường sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của năm thủ uẩn mà Đức Phật cảnh giác. Bởi vì nhận chân các hình tướng mà Đấng bà con mặt trời đã thuyết giảng là điều phải trải qua quá trình tu hành cực kỳ gian nan và dài lâu chứ không thể một sớm, một chiều mà chúng ta “thấy như thật” được các ngoại trần Sắc Thọ Tưởng Hành Thức: Sắc ví với đống bọt,
Thọ ví bong bóng nước,
Tưởng ví ráng mặt trời,
Hành ví với cây chuối,
Thức ví với ảo thuật,[9]
Chẳng những thế, Đức Phật còn căn dặn chúng ta tránh bị dính mắc, chấp thủ, ràng buộc vào nội trần khi nhiếp được tâm an định; đó là các trường hợp chứng và trú sơ thiền, tâm ta sẽ bị trói vào hỷ lạc do ly dục sanh – chứng và trú nhị thiền, tâm ta sẽ bị trói vào hỷ lạc do định sanh – chứng và trú tam thiền, tâm ta sẽ bị trói vào xả và lạc – chứng và trú tứ thiền, tâm ta sẽ bị trói vào không khổ không lạc. [10]
Vô Ngã giải thích các hiện tượng Duyên khởi. Duyên khởi vạch ra lộ trình của Đau Khổ, hậu quả của chấp Ngã. Cả hai giáo lý này tương tác trong lý luận sẽ định hướng chuẩn cho chúng ta đi về nẻo chánh, đường ngay. Chúng ta không nên hiểu Vô Ngã là bỏ mặc thân tứ đại này no đói, lành rách chẳng màng. Chúng ta còn mượn thân xác này tu hành, phục vụ chúng sinh, chúng ta phải trân trọng miếng ăn, giấc ngủ để có sức khỏe phục vụ, có trí tuệ tu hành. Phải khôn ngoan nương vào thân này nhưng không được quá chìu chuộng cũng không được phép phó mặc.
Hiểu Duyên khởi, Vô Ngã, chúng ta không còn vấn vương, bịn rịn hay bực dọc, cay cú, khi nhìn, khi nghe, khi ngửi, khi nếm, khi xúc chạm: Vì không có gì vĩnh viễn. Vì mọi thứ rồi tan biến theo dòng đời. Và mọi thứ rồi chìm vào quên lãng vào quá khứ…
Hiểu Duyên khởi, Vô Ngã mới thấy ‘Triêu tồn tịch vong, sát na dị thế. Thí như xuân sương, hiểu lộ, thúc hốt tức vô; ngạn thọ, tỉnh đằng, khởi năng trường cửu. Niệm niệm tấn tốc, nhất sát na gian, chuyển tức tức thị lai sanh.’[11]
Hiểu Duyên khởi, Vô Ngã mới thấy ‘các pháp hữu vi như sao đêm, như mắt loạn, như ngọn đèn, như huyễn thuật, như sương mai, như bọt nước, như cơn mộng, như ánh chớp, như đám mây‘.
Hiểu Duyên khởi và Vô Ngã, chúng ta mới giải quyết mọi vấn đề hợp tình, hợp lý hơn, thay vì sống thiên vị, theo cảm tính, rồi gieo tạo ác nghiệp mà không hay. Chúng ta không buồn trách khi một người huynh đệ được kính quí chứ không phải là mình; không tự hào, hãnh diện khi mình được chọn làm thị giả, thư ký cho một bậc cao tăng thạc đức trong các hội nghị quốc tế. Trái lại, chúng ta sống hòa hợp với mọi người hơn, bao dung với người lầm lỡ, tùy hỷ với người thành đạt, thương xót, giúp đỡ người thiếu kém, bạc phận, lạc loài.
Riêng bản thân chúng ta, dù biết cuộc đời giả tạm, hững hờ, chúng ta vẫn cố gắng khắc phục thói hư, tật xấu bằng cách tránh xa thầy tà, bạn ác đã từng giao du, thay vào đó, tìm minh sư, thiện hữu mà thân cận, không được bê trễ tu hành, phải siêng tu thiền định, sám hối, lễ Phật, trau dồi đạo đức vị tha – vô ngã sâu sắc hơn để trở nên hữu ích cho cuộc đời, cho xã hội hơn.
Đức Phật từng ví rằng “giáo lý của ta như chiếc bè để giúp người qua sông” hoặc là “giáo pháp của ta như ngón tay chỉ mặt trăng chứ không phải mặt trăng” hay “Ta nói pháp để chúng sinh xa lìa tham ái và chấp thủ…”. Nhưng trong kinh 22, Ví dụ con rắn Alagaddùpama sutta – Trung Bộ Kinh I, Đức Phật cũng nói thêm “Ta thuyết pháp như chiếc bè để vượt qua, không phải để nắm giữ lấy. Chư Tỷ-kheo, các Ông cần hiểu ví dụ cái bè. Chánh pháp còn phải bỏ đi, huống nữa là phi pháp”. Nghĩa là Đức Phật khuyên chúng ta sống theo Trung Đạo của Bát Chánh Đạo, chớ chấp cứng một điều gì – vì điều đó chỉ đúng, chỉ hợp thời, hợp tình, hợp lý trong một vài hoàn cảnh nào đó chứ không thể áp dụng chung cho tất cả mọi tình huống. Bởi thế, nếu ta khám phá mình vương vào tâm bất thiện nào phải lập tức loại trừ ngay, vì an lạc, vì hạnh phúc của chung quanh chúng ta.
Hiểu Duyên khởi, Vô Ngã để thấy không có Thần linh, không có Thượng đế mà chỉ là một chuỗi nhân duyên thuận theo nhân quả, không có người tạo tác, không có người thọ lãnh.
Tóm lại, chúng ta thường sống “ từ mê đến mê – đều do sáu giặc”. Ngày nay, cổ đức đã dạy “sáu căn an nhiên, đứng đi an nhiên và một tâm chẳng sanh, ắt hẳn muôn pháp đều dứt”, chúng ta hãy luôn tự hỏi: Cái gì vô thường, khổ thì có hợp lý chăng, khi ta cứ ôm lấy vào lòng, xem như "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi” ?
Chúng ta không chắc gì chứng đắc đạo quả trong đời này nhưng ít nhất, nương theo Duyên khởi, Vô ngã để hướng về giải thoát, giác ngộ, có chánh trí trong hiện đời, không cuốn theo những điều mắt thấy, tai nghe, những điều do xã hội, lề thói qui ước, cả những gì ta tâm đắc, sở đắc âm thầm, lặng lẽ. Vâng, còn là hàng sơ cơ, chập chững vào đạo, tốt nhất, chúng ta luôn ghi khắc và thực hành theo bài kệ trong kinh Kim Cang để tự nhắc mình khi đối người tiếp vật giữa cuộc đời này nhằm bớt phần nào ngu si, sa đà vào chấp Ngã:
Nhất thiết hữu vi pháp
Như mộng huyễn bào ảnh
Như lộ diệc như điện
Ưng tác như thị quán.HET=NAM MO A DI DA PHAT.( 3 LAN ).NIEM PHAT DUONG KIM LIEN.THICH NU GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.3/11/2016.

No comments:
Post a Comment