Friday, 14 October 2016

Tình Thầy như nước chảy phù sa.
Nuôi con khôn lớn không bằng sữa,
Bằng tấm lòng của mẹ của cha.
Thật đúng với những gì mà người Thầy khả kính đã dành cho con.
Cha Mẹ là người cho con một hình hài nguyên vẹn. Sư phụ là người kiến tạo nên giới thân huệ mạng cho con. Ân đức hai đấng ấy cao như trời, rộng như biển khó mà đền đáp được. Và Phật tử cũng là những người đã nuôi lớn tấm thân con, ân đức ấy cũng tựa trời biển có khác gì. Từ khi lìa bỏ gia đình vào chùa xuất gia với hai bàn tay trắng, mỗi thứ mỗi vật từ cơm ăn, áo mặc, thuốc men, sách vở, những dụng cụ sinh hoạt, học hành, tất tất đều do Phật tử dâng cúng. Và ngày hôm nay cho đến mãi về sau, mọi thứ con dùng hằng ngày cũng đều từ Phật tử cúng dường. Cho nên bài viết này nhắc đến công ơn thí chủ, như để tự nhắc nhở bản thân mình trong vấn đề tu học.
1. Việc làm của thí chủ đối với chúng ta
Ngài Thật Hiền dạy: “Vị ngã đẳng kim ngã nhật dụng sở tư, tịnh phi kỉ hữu. Nhị thời chúc phạn, tứ quý y thường, tật bệnh sở nhu, thân khẩu sở phí, thử giai xuất tự tha lực, tương vi ngã dục”, nghĩa là những thứ vật phẩm ta dùng hằng ngày, không phải của mình, đều do người khác cúng dường. Từ cơm cháo hai buổi, quần áo bốn mùa, sinh hoạt cần dùng cùng với những thuốc men khi bệnh tật, dụng cụ học hành, phương tiện đi lại, đều do người khác cúng dường để ta làm phương tiện tu hành, học đạo.
Người nhọc sức cày cấy còn khó nuôi miệng, ta ngồi không mà ăn vẫn không vừa ý hay sao? Bưng bát cơm lên ăn, có khi nào ta nghĩ đến việc để có được hạt cơm này, người nông phu phải suốt ngày cực khổ, dãi nắng dầm mưa gieo lúa, chăm sóc? Đó là chưa nói đến những lúc thất mùa, họ đứng ngồi không yên, không đủ cơm ăn, còn ta thì không làm gì hết, ngồi không thọ nhận những món ngon lạ, cơm canh dọn sẵn, lắm khi còn chê món này dở, món kia không ngon. Vì thế, Cố Ni trưởng dạy khi ăn phải quán: “Cơm như món thuốc linh chữa bệnh, ta người đau phải tính phương châm, tạm dùng nhưng chẳng luyến tâm”.
Đó là vấn đề ăn uống, còn về y phục, vải mà ta mặc không phải tự nhiên mà có, do người công nhân ngày đêm không ngừng vất vả mới dệt ra được. Cảm động hơn khi có những thí chủ phải ở nhà tranh cửa lá rách nát, có người cả một đời lao khổ mà không có cái nhà che nắng che mưa. Đôi khi bản thân họ không dám tiêu xài, không dám ăn ngon, mặc không đẹp, đối với con cháu cũng không cho thoải mái, thế mà đối với chúng ta thì không hề có ý hẹp hòi. Nhất là trong mùa an cư kiết hạ, có những đoàn Phật tử từ miền Trung, miền Tây xa xôi, bỏ công ăn việc làm, dành dụm tiền bạc mua từng gói cà phê, cái khăn, bàn chải, xà bông… thành tâm đem đến Trường hạ cúng dường. Thật là những tấm lòng cao quý!
2. Tâm nguyện của thí chủ khi cúng dường
Có bao giờ chúng ta suy nghĩ tại sao thí chủ phát tâm cúng dường cho ta không? Là bổn phận chăng? Không, là niềm kính tin Tam Bảo, mến Tăng, xem hình bóng Tăng bảo thay Đức Phật truyền trao giáo pháp, cho đời bớt khổ. Họ kính ta vì ta đang khoác trên mình pháp phục của Phật, cúng dường ta vì mong muốn sẽ được phước đức – “người dâng vật quý là mong phước lành”.
Có lúc nào ta nhìn lại xem mình đã có đủ phước đức hồi hướng cho họ, đã được phần nào như họ nghĩ chưa? Bản thân con khi suy xét lại mới thấy thật hổ thẹn, thật không xứng đáng, đã lấy sự cực nhọc của bao người cung phụng cái an nhàn hưởng thụ của mình, đem cái lợi ích của người để làm no ấm thân mình. Tu thì tu lai rai, tu cho qua ngày tháng, lên tụng kinh thì tụng cho có như trả nợ cho Phật vậy, học hành thì biếng nhác không đâu ra đâu, vậy mà khi có ai hỏi tới liền tự hào xưng ta đây là đệ tử đức Như Lai. Con đã “lạm xưng Thích tử, thiểm hiệu Sa Môn”.
Người xưa nói: “Một bữa cháo, một bữa cơm, thường suy nghĩ chỗ đến không dễ; nửa sợi tơ sợi chỉ, thường nhớ công người làm ra vật chất khó khăn”, dù uống một ngụm nước của người cúng dường thì sau này cũng hoàn trả, cho nên nói: “Tam tâm bất liễu thuỷ nan tiêu”, nghĩa là ba tâm chưa dứt, nước khó tiêu, quả báo ác khó tránh. Cổ đức dạy:
Thiện thí nhất lạp mễ, trọng như Tu Di sơn.
Ngật liễu bất tu đạo, phi mao đái giác hoàn.
Dịch :
Thiện thí một hạt gạo, nặng như núi Tu Di,
Ăn rồi không tu đạo, đội lông mang sừng trả.
Cho nên ta phải phát Bồ đề tâm dõng mãnh, lập nguyện kiên cố, tinh tấn tu hành mới mong tránh khỏi kiếp đội lông mang sừng để trả nợ.
3. Ứng dụng việc nghĩ về ân thí chủ để phát tâm Bồ đề trong đời sống
3.1. Trong sinh hoạt
Sống trong thời đại của vật chất phương tiện, tứ sự cúng dường rất đầy đủ, cơm ăn, áo mặc, sách vở, tiền bạc học hành… đều là mồ hôi nước mắt của người thí chủ. Có được nó, họ phải vất vả cực nhọc, cho nên ta phải biết “thiểu dục tri túc” trong vấn đề thọ nhận và tiêu xài. Nếu cuộc sống mình quá sung túc và có phần dư dả thì nên đem những phần dư đó cúng dường cho các vị thiếu thốn, hoặc đem bố thí cho người nghèo. Nếu làm được như vậy thì mình sẽ giảm thiểu được tâm tham, được lợi mình và lợi người.
3.2. Trong tu học
Vật chất và đạo đức thường không tỉ lệ thuận, hễ vật chất càng tăng thì đạo đức càng suy giảm. Vì thế chúng ta phải luôn tâm niệm rằng: Tuy đầy đủ duyên lành được xuất gia tu học, nhưng vẫn còn là những người “phước mỏng nghiệp dày”, bị nghiệp chi phối. Người xuất gia như những mảnh đất phì nhiêu, Phật tử là nông dân quanh năm gieo rồi thu hoạch, thu hoạch rồi lại gieo, trải qua thời gian, nếu không bón phân đầy đủ, đúng kỹ thuật thì những cây ấy sẽ hút hết chất dinh dưỡng trong đất làm cho mảnh đất trở nên khô cằn và không sử dụng được nữa. Cũng vậy, nếu chúng ta cứ thâu nhận của cúng dường mà không lo tu tập, không khéo phát tâm và khéo chăm sóc thì mảnh đất trong ta sẽ bị khô cứng và tiêu hoại. Suy nghĩ như thế thì chúng ta không dám biếng nhác giải đãi mà tinh tấn hơn trong tu học.
Tóm lại, pháp Phật nhiều vô lượng, thường được diễn tả có 84.000 pháp môn, từ việc cúng dường, xây chùa, đúc tượng, ấn tống kinh điển, cho đến nhóm cát làm tháp Phật, hay chỉ niệm một câu nam mô Phật… tất cả đều là phương tiện giúp chúng ta phát Bồ đề tâm. Tuy nhiên, mỗi người chúng ta chọn cho mình một đối tượng thích hợp để lấy đó làm động lực tiến tu trên bước đường giải thoát. Đức Phật dạy ai cũng có Bồ đề tâm, nhưng vì bị vô minh bao bọc, ngăn che, bị trần ai làm ô nhiễm nên không biết, không thấy. Chư Phật ba đời đều nhờ tâm này mà thành đạo. Đức Phật Thích Ca khi ngồi dưới cội Bồ đề, Ngài phát nguyện: “Nếu không thành đạo ta quyết không rời khỏi chỗ này”, còn Ngài Địa Tạng thì phát nguyện: “Địa ngục vị không thệ bất thành Phật, chúng sanh độ tận phương chứng Bồ đề”, các vị Bồ tát cũng phát nguyện: “Khi nào chúng sanh hết khổ các Ngài mới thành Phật”. Chúng ta là người học Phật phải biết sự phát tâm Bồ đề là thù thắng để thăng hoa trên bước đường an lạc giải thoát. Đó cũng là cách để ta báo đáp ơn dày của thí chủ dành cho ta.HET=NAM MO A DI DA PHAT.( 3 LAN ).NIEM PHAT DUONG KIM LIEN.THICH NU GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.15/10/2016.

No comments:

Post a Comment