Monday, 22 January 2018

Giới luật là nền tảng đạo đức, là mảnh đất màu mở để gieo trồng những hạt giống lành. Người biết sống thận trọng, có kỷ cương, tinh tế, hiền thiện, trong lành v.v..không những tự mình an lạc mà còn đem lại ổn định hạnh phúc cho người khác. Trong một cộng đồng xã hội nếu mọi người biết hành động, nói năng thận trọng thì sẽ tránh được biết bao khổ đau bất hạnh mà hầu hết đều do buông lung, bất cẩn, thiếu kỷ cương gây nên. Quả thật giới luật đóng vai trò tối quan trọng trong việc đem lại lợi ích bất tận cho đời sống con người.
 Tránh những thói hư tật xấu: Sống buông lung, cẩu thả, không kỷ cương, không tự chế là tiến trình hình thành những thói quen sa đọa, những thói hư tật xấu có thể làm thân bại danh liệt cả một đời. Người biết sống thận trọng, tự chế trong từng hành vi cử chỉ không thể nào rơi vào thói hư tật xấu. Và nếu có thói quen xấu nào thì cũng dễ dàng thoát ra nhớ đức tính thận trọng giúp anh ta biết nhận thức đúng sai để tự điều chỉnh.
Không gây ra những hậu quả tai hại: Người không biết tự chế sẽ gây ra tai hại cho mình và người khác bằng hành động, lời nói sai trái của mình. Trầm trọng hơn, sự bất cẩn có thể đưa đến tai nạn, gây thương tật, bệnh hoạn hay tử vong. Ví dụ như một người lái xe cẩu thả, một công nhân bất cẩn, một bác sĩ tắc trách, v.v..không những gây họa cho mình mà cho người khác. Người thận trọng, kỹ lưỡng có thể tránh được những hậu quả tai hại như thế một cách dễ dàng.
Không hối tiếc ray rứt: Người hành động bất cẩn sau khi gây ra lỗi lầm, bên trong thường tự dày vò, cắn rứt, đồng thời bên ngoài bị người đời đàm tiếu mỉa mai, vì vậy họ luôn căng thẳng, bất an. Ngược lại, người có giới hạnh thân tâm thường mát mẻ, trong lành, an nhiên, thư thái.
Không bối rối lo sợ trước đám đông: Người có mặc cảm tội lỗi thường thiếu tự tin vì vậy họ luôn bối rối, e dè, hồi hộp, lo lắng khi ở chỗ đông người. Họ không thích gặp ai vì hầu như tự bị ám ảnh bởi cảm giác tội lỗi của mình đã bị người khác phát hiện. Trái lại, giới hạnh giúp bạn tự tin, điềm tĩnh, nên không lo sợ giữa chốn đông người.
Có phong thái đoan chính tự nhiên: Người hành động nói năng thận trọng sẽ dễ dàng phát hiện cái đúng cái sai để tự điều chỉnh hành vi của mình. Vì vậy, mặc dù không cố tạo cho mình cung cách riêng họ vẫn có phong thái ung dung, đĩnh đạc, thoải mái, tự nhiên khiến nhiều người tin yêu kính mến.
Lúc lâm chung không hốt hoảng lo sợ: Người tội lỗi chắc chắn sẽ rất sợ hãi, bấn loạn trong giờ phút lâm chung, vì hình ảnh bất thiện của họ tự động tái hiện trước mắt như một cuốn phim. Đôi khi đó là một chi tiết đầy ấn tượng trong hành vi tội lỗi của mình, như con dao đầy máu, mùi thuốc súng cay nồng, v.v..Đôi lúc là một cảnh tượng thật hãi hùng như một điềm báo chẳng lành về sau. Đó là cận tử nghiệp của những người làm ác. Ngược lại, người có giới đức biết rõ hành vi trong sạch của mình, sẽ ra đi một cách nhẹ nhàng thanh thản.
Làm nền tảng cho thiền định và trí tuệ: Người buông lung cẩu thả thường hành động theo thói quen bất thiện(thiếu giới) nên không có khả năng chú tâm(thiếu định), và vì bị điều động bởi những khuynh hướng vô thức nên không đủ sáng suốt để biết đâu là sự thật (thiếu tuệ). Trong khi người hành động, nói năng thận trọng (có giới) sẽ dễ dàng chú tâm hơn (có định), và do đó có thể thấy biết rõ ràng minh bạch (có tuệ). Nói cách khác, hành động,lời nói trong lành (giới) đưa đến tâm an tịnh (định) và tánh giác sẽ sáng soi vạn pháp (tuệ). Vì vậy,lợi ích quan trọng nhất của giới là làm nền tảng vững chắc cho thiền định, trí tuệ, giải thoát và giải thoát tri kiến.
Tặng tha nhân món quà vô úy: Bạn có thể nghĩ rằng phục vụ mới là hành động vị tha, còn giữ giới chỉ có lợi riêng cho mình. Đó là quan niệm sai lầm. Người có giới đức không hại ai nghĩa là không gieo rắc lo âu sợ hãi cho người khác. Họ có vẻ như không làm gì cho ai, nhưng thực ra họ đang giúp người khác sống yên tâm, không lo sợ bị hại. Do đó, giữ giới không phải chỉ tự lợi mà còn được xem là hành động vị tha: Một món quà vô úy cho mọi người.
Hỏi:
-Tôi thấy trong mối quan hệ xã hội ngày nay thật khó mà giữ được trọn vẹn năm giới, nhất là giới nói dối và uống rượu. Vậy có thể tùy cơ ứng biến cho hợp với hoàn cảnh có được không?
Đáp :
-Chẳng ai có quyền bảo bạn được hay không. Chính bạn phải tự chiêm nghiệm, khám phá xem tính chất nhân quả trong hành động của mình như thế nào rồi sẽ tự biết có nên làm hay không. Có nhiều loại luật lệ đặt ra nhằm hạn chế hoạt động của người khác để bảo vệ quyền lợi của người chủ hay của tập đoàn thống trị. Vị dụ như luật lệ của người địa chủ đặt ra cho tá điền, hoặc của nước thực dân áp đặt lên dân thuộc địa. Do đó sẽ có phản kháng để đòi lại công bằng. Trong trường hợp này, phạm luật có khi lại là hành động đúng tốt và can đảm. Trái lại, giới luật nhà Phật chỉ giúp bạn tự mình ý thức hành vi của mình để trực nhận ra tính chất đúng-sai, thiện-ác, không theo sự đánh giá nào từ bên ngoài. Đó là lý do vì sao giới được gọi là điều học. Vậy tại sao bạn không lấy đó làm bài học để thấy ra chính mình?Đức Phật chỉ vì lợi ích của bạn mà gợi ý thôi, không ai ràng buộc bạn cả, bạn có quyền tự do vận dụng uyển chuyển thế nào tùy bạn. Có điều bạn cần phải tự khám phá tính chất đúng sai thiện ác trong hành động nói năng của mình vì đó là trách nhiệm và quyền lợi của bạn chứ không phải của bất kỳ ai khác.
Hỏi :
-Người làm nông muốn bảo vệ hoa màu phải diệt trừ sâu rầy, làm sao tránh khỏi tội sát sanh? Vậy đâu là giải pháp?
Đáp :
-Con người, tự cho mình là “ưu việt hơn muôn loài”, biết cách kiếm sống để bảo vệ chính mình. Nhưng nếu bảo vệ sự sống của mình mà xem thường sinh mạng của muôn loài thì đã trở thành “đáng sợ nhất trên đời”! Con người quả lài chẳng “ưu”chút nào khi chỉ biết đến quyền lợi của riêng mình, tham lam vơ vét mọi thứ, cưỡng đoạt môi trường sống của muôn loài và sẵn sàng xâm hại bất kỳ ai tỏ ra bất lợi cho mình. Ngày nay khoa học đã chứng minh rằng hủy diệt côn trùng bừa bãi đã làm mất cân bằng sinh thái một cách trầm trọng, không những chỉ hãm hại chúng sinh mà còn tự hủy hoại môi trường sống của chính mình.
Chúng ta khai thác rừng, biển,v.v đến nỗi nhiều loài thực vật, cây thuốc, hải sản, cầm thú đã bị tuyệt chủng, cùng với sự biến đổi thời tiết gây nên thiên tai dịch bệnh. Thuốc trừ sâu đã làm mọi thứ trở nên độc hại. Cho nên ngày nay cúng ta rất cần hoa màu, thực phẩm, không khí, môi trường trong sạch lành mạnh để được sống an toàn.
Để có cái lợi trước mắt mà không thấy tai họa lâu dài cho toàn bộ sự sống trên hành tinh nhỏ bé này, quả là điều cần xem xét lại một cách nghiêm túc. Hãy thử xem có phải chúng ta đang bảo vệ sự sống hay đang cổ vũ cho lòng tham không đáy, cho sự ích kỷ, tàn khốc, và hủy diệt? Có lẽ chúng ta vẫn chưa hiểu hết ý nghĩa trong tầm vóc sâu xa của giới như là điều học. Nếu con người thật sự muốn học, thì thiếu gì cách để bảo vệ sự sống mà không cần hủy diệt.
Hỏi:
-Chữ lễ trong Nho giáo có đồng nghĩa với giới luật Phật giáo không?
Đáp:
-Có cái giống nhau, cái khác nhau. Lễ tiết Nho giáo nhấn mạnh đạo làm người, mang tính đối nhân xử thế trong quan hệ xã hội giữa vua với tôi, cha với con, chồng với vợ v.v..hoặc là những nghi lễ cúng tế Trời, Thần, trong đó có cái thích ứng với đạo đức con người một cách phổ quát, có cái chỉ phù hợp với chế độ quân chủ phong kiến mà thôi.
Trong giới luật Phật giáo cũng vậy, một số điều học chỉ nhằm thích nghi với hoàn cảnh, một số khác tiêu biểu cho đạo đức làm người, nhưng không nhằm vào thời đại hay tầng lớp xã hội đặc thù nào mà là đạo đức tinh yếu và phổ quát, phù hợp với mọi người và mọi thời. Tuy nhiên, mục đích chính của Nho lễ là ổn định trật tự xã hội loài người, trong khi luật Phật nhằm giải phóng chúng ta ra khỏi hành động sai lầm, bất thiện để có thể hoàn toàn giác ngộ giải thoát.
Chính vì lễ là những luật lệ quy định cách ứng xử tùy theo tôn ti trật tự giữa địa vị của những người sống trong xã hội phong kiến, nên đặt nặng hiệu quả trong tổ chức thể chế chính trị hơn là thiết lập trên bản chất cốt lõi của đạo đức. Mặc dù “lễ dĩ chế dục”, nhưng chỉ chế ngự những dục vọng bên ngoài còn dục vọng sâu kín lại bị dồn nén, ẩn ức bên trong. Vì vậy mà Lão Tử đã than rằng: “Ôi! lễ ấy là sự mỏng manh của lòng trung tín, là đầu mối của loạn lạc”. Trong khi đó giới luật Phật giáo được xem là yếu tố đưa đến an lạc giải thoát (Silena nibbutim yanti).
Hỏi:
-Con đã từng thấy nhiều người giữ giới rất nghiêm, nhưng sao hình như họ có vẻ cố chấp và ngã mạn, xem thường và lên án người không giữ giới nghiêm khắc như họ. Vì sao lại như vậy?
Trả lời:
-Đơn giản chỉ vì những lý do sau đây:
1)Họ chỉ chú trọng giữ hình thức bên ngoài của giới mà không thấy được ý nghĩa đích thực bên trong , nên họ quá nghiêm khắc với chính mình và người khác.
2)Họ mượn giới để tạo uy tín và hư danh cho bản thân hay cho tổ chức của họ hơn là sống hiền lương, trung thực với chính mình và mọi người.
3)Họ chỉ căn cứ trên giới điều hữu hạn để đánh giá đúng sai, xấu tốt, chứ không lấy đó làm điều học để thấy ra và điều chỉnh hành vi đạo đức của chính mình.
4)Họ chỉ đơn giản tin vào khuôn khổ mà giới luật quy định để tuân thủ hơn là tin vào sự thận trọng khám phá những diễn biến tâm-sinh-vật lý phức tạp giữa cái đúng-sai- xâu-tốt trong hành vi đạo đức của mình.
5)Họ luôn ở một trong hai thái độ tâm lý:tự ti hoặc tự tôn. Khi thấy mình giữ giới nghiêm túc hơn người thì tự cao ngã mạn, nhưng khi phạm giới thì dễ rơi vào tình trạng tự ti mặc cảm.
Hỏi:
-Thưa thầy, có khi nào không phạm giới mà có tội, ngược lại, phạm giới mà không có tội không?
Trả lời:
-Chà, đây quả là câu hỏi khó! Tôi đang phân vân không biết nên trả lời như thế nào đây? Khó có một câu trả lời xác định có hay không từ người khác. Bạn cần phải hiểu thật tường tận mọi học giới, cụ thể trong từng trường hợp mới có thể tự trả lời có hay không. Nếu không mọi câu trả lời đều chỉ là giả thuyết vô nghĩa. Mặc khác, nếu bạn giữ giới quá cố chấp thì khó có thể nhận ra tính chất uyển chuyển sáng tạo mà chỉ thấy mặt khô cứng của giới mà thôi.
Sau đây là những tình huống để bạn tự vận dụng trí tuệ của mình xem trường hợp nào có tội, trường hợp nào không.
Tình huống thứ nhất là ai đó muốn giết người cướp của nhưng thực hiện không thành công, nghĩa là anh ta chưa sát sanh,trộm cắp nên không phạm giới nào. Hoặc một người khác, xảo quyệt hơn để luồn lách cho khỏi phạm giới, chẳng hạn như anh ta thích uống rượu, nhưng đó là một giới cấm, trừ phi sử dụng rượu với thuốc. Thế là anh ta tha hồ uống cái gọi là rượu thuốc vì có phạm giới tửu đâu. Vậy bạn nghĩ người đó có tội không?
Tình huống thứ hai là câu chuyện thật bi thương được kể lại rằng: Một đội quân phải khẩn cấp rút khỏi chiến trường đang giao tranh ác liệt, đành để lại một người lính đang bị trọng thương, không thể cứu sống, cũng không thể mang đi. Không nỡ để bạn một thân một mình quằn quải đau đớn dữ dội trong sự kinh hoàng của chiến trận, nên đội trưởng đã quyết định bắn chết đồng đội của mình. Xét về giới đạo cũng như luật đời thì người đội trưởng đều vi phạm, thậm chí anh ta có thể bị xử tội. Nhưng nếu bạn là người đội trưởng thì lúc đó lương tâm bạn sẽ bảo bạn làm thế nào? Bạn cho đó là phước hay tội?HET=NAM MO A DI DA PHAT.( 3 LAN ).NIEM PHAT DUONG KIM LIEN.THICH NU TAM GIAC AUSTRALIA,SYDNEY.23/1/2018.
Phật tánh là đề tài mà Đức Phật đã không thuyết giảng rõ ràng trong lần chuyển pháp luân đầu tiên. Không phải là Ngài giữ lại một số khám phá lớn chỉ có thể trao truyền cho những người đệ tử khá nhất và thông minh nhất. Giống như một vị thầy có trách nhiệm, Ngài tập trung vào những nguyên lý căn bản trước khi đề cập đến những chủ đề cao hơn.
Nói về Phật tánh, nó không liên hệ gì đến đạo hạnh và cung cách của một người trong bộ y vàng trên đường đi khất thực. Chữ Phật trong Phạn ngữ được dịch theo nghĩa đen là “bậc giác ngộ”. Nếu được coi là một danh hiệu, chữ này thường được chỉ cho Đức Tất-đạt-đa Cồ Đàm, người đã đạt được giác ngộ tối thượng 2.500 năm trước dưới cây bồ đề.
Tuy nhiên, Phật tánh không phải là một danh hiệu. Nó không phải là một tính chất dành riêng cho Đức Phật lịch sử hay những hành giả Phật giáo. Nó không phải một thứ được tạo ra hay tưởng tượng ra. Nó là trọng tâm hay thực chất bên trong tất cả mọi chúng sanh: một tiềm năng vô hạn để hành động, thấy, nghe, cảm nghiệm một sự việc. Nhờ Phật tánh, chúng ta có thể học, có thể phát triển, có thể thay đổi. Mọi người trong chúng ta đều có thể và có quyền trở thành một Đức Phật.
Phật tánh không thể được diễn tả bằng những từ ngữ thuộc khái niệm tương đối. Nó cần được kinh nghiệm một cách trực tiếp, và kinh nghiệm trực tiếp thì không thể diễn tả bằng lời. Khi chúng ta nhìn một khung cảnh hùng vĩ, chúng ta có thể nói rằng nó hùng vĩ lớn lao, rằng những vách đá hai bên màu đỏ, không khí khô và có mùi của cây tuyết tùng… Nhưng dù có diễn tả hay ho cách mấy, sự diễn tả của chúng ta cũng không thể thật sự chứa đựng hết kinh nghiệm cảm nhận được khi đứng trước cái hùng vĩ đó. Hoặc khi chúng ta cố gắng diễn tả cảnh quan nhìn từ đài thiên văn Tapei 101 ở Đài Bắc, một trong những ngôi nhà cao nhất thế giới, được coi là một trong bảy kỳ quan hiện đại của loài người. Chúng ta có thể nói về bức tranh toàn cảnh, về con đường với xe cộ và con người được thấy như những con kiến hoặc chúng ta phải nín thở khi đứng ở một nơi quá cao trên mặt đất. Nhưng chúng ta vẫn không thể truyền đạt sự sâu rộng trong kinh nghiệm của chúng ta.
Tuy nhiên, mặc dù Phật tánh không thể diễn tả được. Đức Phật đã đưa ra một số gợi ý như tấm bản đồ giúp chúng ta biết phương hướng và con đường dẫn đến kinh nghiệm không thể diễn tả đó. Một trong những phương pháp của Ngài là nêu lên ba tính chất của Phật tánh: Tự do vô hạn: khả năng nhận biết một cách tự tại về mọi sự việc quá khứ, hiện tại và tương lai; năng lực vô hạn: sức mạnh không giới hạn để đưa chúng ta và tất cả chúng sanh thoát khỏi đau khổ; và lòng từ bi vô hạn: ý thức không giới hạn về sự tương liên giữa tất cả vạn vật, một tâm thức mở rộng ra cho kẻ khác, điều được coi là động lực trong việc tạo ra những điều kiện thuận lợi giúp tất cả chúng sanh tiến hóa.
Điều không thể nghi ngờ là có rất nhiều người tin tưởng vào Đức Phật để qua học hỏi và thực hành, đã có thể thể nghiệm trực tiếp sự tự do, sức mạnh và lòng từ bi không giới hạn đó.
Trong nhiều kinh điển, chúng ta thấy Đức Phật luôn luôn sẵn sàng trao đổi với những người có sự nghi ngờ về những điều Ngài nói. Ngài là một vị thầy duy nhất du hành khắp Ấn Độ vào thế kỷ thứ tư trước Tây lịch với mục đích thuyết phục quần chúng về nhiều vấn đề. Tuy nhiên, không giống như nhiều người đường thời, Ngài không cố gắng thuyết phục quần chúng tin rằng phương pháp mà Ngài tìm ra trong việc giải thoát khổ đau là phương pháp duy nhất. Một điểm quan trọng xuyên suốt nhiều kinh điển Phật giáo có thể được tóm tắt bằng ngôn ngữ ngày nay: “Đó chỉ là điều tôi thực hành và điều tôi nhận ra. Đừng tin điều gì tôi nói vì điều đó do tôi nói. Các vị hãy tự mình thực hành để tỏ mình trải nghiệm”.
Đức Phật không cực đoan ngăn cản người khác trong việc lựa chọn điều họ nên học và phương pháp học. Thay vì vậy, trong giáo lý Phật tánh, Ngài trình bày cho thính chúng một loại trải nghiệm tư duy, kêu gọi họ khám phá từ trong kinh nghiệm của chính
họ những biểu lộ của Phật tánh trong mọi lúc của đời sống hàng ngày. Ngài trình bày thể nghiệm này bằng hình ảnh một ngôi nhà trong đó có một ngọn đèn được thắp sáng với những bóng mờ và những cửa sổ đóng kín. Ngôi nhà tượng trưng cho cái thấy dày đặc do sự tùy thuộc vào những điều kiện vật lý, tâm lý, cảm xúc… Chiếc đèn tượng trưng cho Phật tánh. Dù cho những bóng ma và những cửa sổ bị đóng kín, một chút của ngọn đèn từ bên trong vẫn chiếu xuyên qua.
Bên trong, ánh sáng từ ngọn đèn đem đến sự rõ ràng để phân biệt giữa một chiếc ghế, một cái giường, hay một tấm thảm. Giống như ánh sáng ngọn đèn có thể xuyên qua những khoảng tối và những cửa sổ, chúng ta có thể kinh nghiệm được ánh sáng trí tuệ như là một trực giác, một cái “thấy ở chiều sâu”.
Từ và bi chiếu sáng xuyên qua những chiếc cửa sổ trong những khoảnh khắc này khi chúng ta, một cách tự phát, giúp đỡ hay an ủi một người nào đó, không phải vì sự lợi ích bản thân, mà vì cảm thấy việc đó nên làm. Có thể là một điều kiện rất đơn giản như cho một người tựa vào vai để khóc khi họ đau khổ, giúp một người băng qua đường, ngồi bên cạnh một người đang bịnh hay đang hấp hối. Tất cả chúng ta đã từng nghe có những người không nghĩ đến nguy hiểm nhảy vào dòng nước sâu để cứu người không quen biết…
Sức mạnh của Phật tánh thường thể hiện trong sự vượt qua những biến cố khó khăn. Gần đây tôi có gặp một người đã thực hành Phật pháp lâu năm. Anh ta đầu tư vào chứng khoán từ năm 1990, và khi chứng khoán tuột, anh mất tất cả. Nhiều người bạn và người cộng tác với anh cũng mất tiền và một số bị rơi vào tình trạng khủng hoảng tinh thần. Một số người mất tự tin và không còn khả năng quyết định; một số rơi vào tình trạng nản chí; một số giống như trong đợt khủng hoảng kinh tế 1929, nhảy qua cửa sổ. Nhưng anh thì vẫn vững tâm, không mất lòng tự tin, không thối chí. Anh bình tĩnh đầu tư trở lại và xây dựng lại nền tảng tài chánh vững vàng.
Nhìn về mặt trầm tĩnh của anh trong những biến cố lớn, một số bạn bè và người cộng tác hỉ anh làm thế nào anh có thể giữ được sự bình tĩnh. Anh trả lời: “Vâng. Tôi có được tất cả số tiền đó từ thị trường chứng khoán, rồi nó trở về với thị trường chứng khoán, và giờ thì nó quay trở lại. Điều kiện thay đổi, nhưng tôi vẫn còn. Tôi có thể thực hiện những quyết định. Tôi có thể ở trong một ngôi nhà lớn trong một năm, rồi ngủ trên ván ở nhà một người bạn trong năm kế, nhưng điều đó không làm thay đổi sự việc rằng tôi có thể chọn lựa cách tôi suy nghĩ về chính mình và tất cả những vấn đề xảy ra quanh tôi. Thật sự, tôi thấy tôi rất may mắn. Một số người không có khả năng lựa chọn và một số nguòi không nhận thấy khả năng lựa chọn của mình”.
Tôi cũng từng nghe những nhận xét tương tự từ những người đương đầu với những chứng bịnh kinh niên nơi họ, nơi cha mẹ, con cái họ, hay những thành viên trong gia đình, bạn bè. Một người đàn ông tôi gặp gần đây ở Bắc Mỹ nói về việc anh cố gắng giữ việc làm cũng như mối quan hệ tốt với vợ và con, trong khi vẫn tiếp tục thường xuyên thăm viếng người cha bị bịnh Alzheimer (một chứng mất trí). Anh ta nói: “Dĩ nhiên là khó mà giữ thăng bằng mọi chuyện Nhưng đó là điều tôi thực hiện. Tôi không thấy có cách nào khác”.
Lời phát biểu đơn giản mà tươi mát làm sao! Mặc dù anh ta chưa bao giờ đến tham dự một buổi học Phật pháp, chưa bao giờ nghiên cứu kinh điển Phật giáo, và cũng không cần nhận mình là một Phật tử, sự diễn tả của anh về cuộc sống của mình và cách anh tiếp cận với cuộc sống đã là tiêu biểu cho một sự biểu lộ tự phát về ba phương diện của Phật tánh: trí tuệ nhìn thấy chiều sâu và chiều rộng trong hoàn cảnh của mình, khả năng giải thích sự việc và hành động theo cái thấy của mình, cách cư xử tự phát theo tâm từ bi.
Khi tôi nghe anh nói chuyện, tôi nhận ra rằng ba tính chất này của Phật tánh có thể được tóm tắt bằng một từ đơn giản: can đảm – đặc biệt là can đảm để là, như chúng ta là, ngay tại đây và ngay bây giờ, với tất cả những nghi ngờ, bất quyết của chúng ta. Đối diện trực tiếp với kinh nghiệm mở ra cho chúng ta khả năng nhận thấy rằng điều mà chúng ta kinh nghiệm –tình yêu, sự cô độc, ganh ghét, niềm vui, lòng tham, nỗi buồn, và vân vân – từ bản chất là một sự biểu hiện tiềm năng vô hạn nền tảng của Phật tánh nơi chúng ta.
Nguyên lý này nằm trong sự “chẩn bịnh” của chân lý thứ ba của Tứ diệu đế – Diệt đế. Bất cứ sự phiền nào nào chúng ta cảm nhận – vi tế, mãnh liệt, hoặc ở mức độ trung gian – sẽ chìm xuống và chúng ta sẽ vượt qua sự dính chặt vào cái thấy giới hạn, tùy thuộc và bị tùy thuộc về chúng ta, để bắt đầu nhìn thấy bằng khả năng thật sựcủa chúng ta, thể nghiệm sự việc một cách toàn bộ. Cuối cùng, đến và dừng lại trong Phật tánh – như một con chim dừng nghỉ khitrở về tổ ấm của mình. Ở đó, sự đau khổ chấm dứt. Không có gì để sợ hãi, không có gì để chống cự. Ngay cả cái chết cũng không làm chúng ta bối rối.■HET=NAM MO A DI DA PHAT.( 3 LAN ).NIEM PHAT DUONG KIM LIEN.THICH NU TAM GIAC .AUSTRALIA,SYDNEY.23/1/2018.