Sunday, 29 October 2017

Tứ Diệu Đế khi khởi sự nghiên cứu đạo Phật là điều rất tốt. Đó cũng là điều thích hợp, vì nó là cách mà Đức Phật bắt đầu, khi ngài khởi sự thuyết pháp. Vào thời của Đức Phật, đã có sẵn vô số các tôn giáo và hệ thống triết học, và ngày nay, chúng ta còn tiếp xúc với các giáo pháp tâm linh trên phạm vi rộng lớn hơn nữa. Vì vậy, khi tiếp xúc với đạo Phật, điều quan trọng là cố nhận diện ra cách tiếp cận của đạo Phật có những nét đặc thù nào. Dĩ nhiên là đạo Phật có nhiều giáo huấn thông thường như các tôn giáo khác: làm người tử tế, từ bi, cố gắng không làm hại bất cứ ai, v.v... Ta có thể thấy những khía cạnh này gần như trong tất cả các tôn giáo và triết lý, nên không cần thiết phải theo đạo Phật để học hỏi về những điều này, mặc dù đạo Phật có khá nhiều phương pháp để phát triển lòng tốt và lòng từ bi. Dù có chấp nhận bất cứ điều gì khác trong giáo pháp của nhà Phật hay không thì ta vẫn có được lợi lạc từ những phương pháp này. Tuy nhiên, nếu như câu hỏi “Đạo Phật có đặc điểm gì?” được nêu ra thì ta cần phải tìm hiểu Tứ Diệu Đế. Thậm chí khi thảo luận về đề tài này, ta sẽ thấy nhiều điểm tương đồng với các hệ thống khác.
Chúng ta có cụm từ “Chân Lý Cao Quý”, nhưng đó là một cách chuyển dịch lạ lùng. Chữ “cao quý” có thể khiến ta nhớ đến tầng lớp quý tộc thời Trung Cổ, nhưng thật ra, nó đề cập đến những người có thực chứng cao cả. Vì vậy nên Bốn Chân Lý Cao Quý là bốn sự kiện được những ai thấy được thực tại một cách vô niệm xem là sự thật. Dù bốn sự kiện này là sự thật, nhưng đa số không thấu hiểu chúng, và còn không biết đến những điều này.

Diệu Đế Thứ Nhất

Sự kiện chân thật đầu tiên thường được gọi là “khổ”. Đức Phật nói rằng cuộc đời của chúng ta đầy đau khổ, ngay cả điều mà mình cho là hạnh phúc bình thường cũng có rất nhiều vấn đề liên hệ trong đó. Danh từ được dịch là “khổ” là chữ “duhkha” trong Phạn ngữ. Chúng ta có sukha, hạnh phúc, và duhkha, bất hạnh. Về mặt ngôn ngữ, khalà không gian và duh là một tiền tố (prefix) biểu thị sự bất toại nguyện, khó chịu. Ta không nên dùng từ ngữ có khuynh hướng phán xét như “xấu”, nhưng nó đi theo chiều hướng đó. Duhkha ám chỉ rằng có điều gì sai trái trong không gian này, đề cập đến không gian tinh thần, và không gian cuộc đời của mình, nói chung. Đó là một tình huống khó chịu.
Vậy thì có gì là khó chịu? Trước tiên, ta phải chịu đựng nỗi khổ thô thiển, chẳng hạn như đau đớn, bất hạnh và đau buồn. Đó là điều mà ai cũng có thể hiểu được, và tất cả mọi người, ngay cả thú vật cũng muốn tránh né. Không có gì đặc biệt khi đạo Phật nói rằng sự đau đớn và bất hạnh là tình huống bất toại nguyện, và tốt hơn là nên thoát khỏi điều này. Dạng khổ thứ hai được gọi là khổ vì thay đổi (hoại khổ), và nó nói về hạnh phúc bình thường, thông thường, hàng ngày của chúng ta. Vấn đề của loại hạnh phúc này là gì? Vấn đề là nó không kéo dài, mà lúc nào cũng thay đổi. Nếu ta xem niềm hạnh phúc bình thường thật sự là hạnh phúc chân thật thì khi có được hạnh phúc này nhiều hơn, ta sẽ càng thấy hạnh phúc hơn. Vậy thì nếu như cảm thấy sung sướng khi ăn sô cô la thì khi ta ăn nhiều hơn, hết giờ này sang giờ khác, ta sẽ thấy sung sướng hơn. Chúng ta tự biết là sự thể không phải như vậy! Hoặc hãy tưởng tượng một người thân yêu vuốt ve tay bạn hàng giờ không ngừng. Cảm giác dễ chịu sẽ nhanh chóng trở thành cảm giác gây đau đớn, hay kỳ cục. Điều này đơn giản là vì niềm hạnh phúc bình thường sẽ thay đổi, và dĩ nhiên là chúng ta không bao giờ thấy đủ, không bao giờ thấy thỏa mãn. Chúng ta luôn luôn muốn ăn thêm sô cô la, có thể là không phải ngay lập tức, mà là một lát nữa.
Thật là thú vị nếu như bạn nghĩ rằng, “Mình nên ăn bao nhiêu để thưởng thức món mình thích đây?” Cắn một miếng nhỏ xíu là đủ rồi, nhưng thật ra mình luôn luôn muốn ăn thêm, thêm chút nữa, rồi thêm nữa. Hiện nay, ước muốn khắc phục vấn đề này trong hạnh phúc bình thường, thế tục của chúng ta cũng không phải là mục tiêu độc quyền của đạo Phật. Có nhiều tôn giáo dạy mình vượt qua lạc thú thế gian để mưu cầu một dạng thiên đàng với hạnh phúc vĩnh hằng.
Dạng khổ thứ ba thì đặc biệt chỉ có trong đạo Phật, được gọi là “nỗi khổ bao trùm khắp nơi”. Ta cũng có thể gọi nó là “vấn đề toàn diện” của mình. Nỗi khổ này thâm nhập tất cả mọi thứ mà ta trải nghiệm, nói về cách chúng ta tái sinh một cách thiếu tự chủ, đó là cơ sở thật sự cho sự thăng trầm trong đời sống hàng ngày của chúng ta. Nói cách khác là sự tái sinh hết lần này đến lần khác, với các dạng tâm thức và thân thể mà mình có, là cơ sở cho hai dạng khổ đầu. Điều này liên hệ đến đề tài tái sinh mà ta có thể tìm hiểu sau này.
Dĩ nhiên là có nhiều hệ thống triết lý Ấn Độ khác giảng dạy về tái sinh, nên đó không phải là điều gì mới lạ xuất phát từ Đức Phật. Tuy nhiên, ngài thấu hiểu và mô tả cơ cấu của tái sinh một cách sâu sắc hơn nhiều, so với giải thích của bất cứ triết lý hay tôn giáo nào khác vào thời đó. Đức Phật đã đưa ra sự giải thích vô cùng thấu đáo về cách tái sinh vận hành, cách tâm thức và cơ thể của chúng ta trải qua những thăng trầm của sự đau đớn, bất hạnh và hạnh phúc bình thường.

Tứ Diệu Đế Thứ Hai

Diệu đế thứ hai xem xét nguyên nhân thật sự của tất cả những nỗi bất hạnh mà ta trải nghiệm. Ở thời điểm này, không cần phải đem bất kỳ điều gì như tái sinh vào đây; thay vì vậy, ta có thể cố gắng hiểu điều mà Đức Phật giải thích một cách đơn giản và hợp lý. Chúng ta nói về khổ và hạnh phúc bình thường, và chúng xuất phát từ những nguyên nhân, nhưng Đức Phật lại quan tâm đến “những nguyên nhân thật sự” (“tập đế”). Chúng ta có thể nghĩ rằng hạnh phúc và khổ đau xảy ra như sự thưởng hay phạt, hay những điều tương tự như thế, nhưng Đức Phật nói về nguyên nhân thật sự là hành vi phá hoại hay xây dựng.
Thế nào là hành vi phá hoại? Có phải nó ám chỉ là việc làm hại hay không? Khi nói về làm hại thì có thể là phương hại người khác, hay làm hại bản thân. Thật ra thì rất khó mà biết được hành vi của mình có thể tạo ra tác động gì đối với người khác, nó sẽ làm hại hay giúp ích cho họ. Chẳng hạn như chúng ta có thể cho ai đó một số tiền lớn, và kết quả là người khác đã giết họ, vì muốn ăn cắp món tiền đó. Mục đích của mình có thể là muốn giúp họ, nhưng thật ra không có gì bảo đảm là họ sẽ được lợi ích. Điều chắc chắn là loại hành vi có tính chất phá hoại cho bản thân mình. Đó là điều mà Đức Phật có ý đề cập đến, khi nói về hành vi phá hoại, vì nó mang tính chất phá hoại cho bản thân.
Tiếp theo đó, điều này nói về việc suy nghĩ, hành động hay nói năng dưới sự tác động của cảm xúc phiền não. Cảm xúc phiền não thì đơn giản là làm phiền lòng! Chúng khiến cho ta mất sự bình an và tự chủ. Điều này ám chỉ tâm sân hận, tham lam, chấp thủ, ganh tỵ, kiêu hãnh và si mê, và danh sách còn dài hơn nữa. Khi suy nghĩ của mình bị vướng vào một trong những cảm xúc này, rồi ta nói năng hay hành động dưới sự tác động của nó thì điều này sẽ khiến cho bản thân mình không vui. Nó có thể không xảy ra ngay lập tức, nhưng về lâu dài thì nó sẽ khiến mình không vui, vì nó tạo ra khuynh hướng tiếp tục hành xử như thế.
Mặt khác, chúng ta có hành động xây dựng, là hành động không chịu sự tác động của cảm xúc phiền não, mà còn có thể chịu sự thúc đẩy của những cảm xúc tích cực như lòng từ, lòng bi, hay kiên nhẫn.
Hành động một cách xây dựng sẽ tạo ra hạnh phúc. Tâm ta sẽ thanh thản hơn, và nói chung thì mình sẽ bình tĩnh hơn. Thường thì ta có thể tự chủ nhiều hơn, nên sẽ không hành xử một cách ngu muội, hay nói những điều dại dột, có thể tạo ra rắc rối. Cũng như vậy, kết quả có thể không xảy ra ngay lập tức, nhưng về lâu dài, nó sẽ tạo ra hạnh phúc. Tuy nhiên, đàng sau đó là sự vô minh về cách chúng ta tồn tại, về cách người khác hiện hữu, và về thực tại nói chung.
Niềm hạnh phúc và bất hạnh bình thường của chúng ta không phải là sự thưởng hay phạt mà vị phán quan nào ở bên ngoài giáng xuống cho mình. Chúng gần như đi theo định luật vật lý. Hành vi nhân quả dựa trên cơ sở nào? Cơ sở đó là tâm vô minh, đặc biệt về bản thân mình. Chúng ta nghĩ rằng, “Mình là người quan trọng nhất, mọi việc nên theo ý mình. Mình phải đứng đầu khi xếp hàng ở siêu thị. Mình phải là người ưu tiên.”. Chúng ta tham lam, muốn làm người đầu tiên, nên giận dữ với những người đứng trước mình. Chúng ta mất kiên nhẫn vì người đứng trước mình quá chậm chạp và lâu lắc quá, và tâm ta toàn là những ý nghĩ không vui về họ. Thậm chí khi hành động một cách xây dựng, ta vẫn có nhiều sự vô minh về “mình” đàng sau điều này. Chẳng hạn như ta có thể giúp người khác vì muốn họ thích mình, hay họ sẽ làm điều gì đó để trả ơn cho mình. Hay điều này khiến mình cảm thấy được người khác cần đến. Tối thiểu thì mình cũng muốn một lời cảm ơn!
Mặc dù cách giúp người như vậy có thể khiến mình thấy vui, nhưng trong lòng thì không mấy thoải mái. Về lâu dài thì niềm vui mà ta có thể cảm nhận sẽ không kéo dài. Nó sẽ trở thành điều bất toại nguyện. Điều này cứ tiếp nối mãi suốt đời, và theo quan điểm của đạo Phật thì sẽ còn tiếp diễn trong những kiếp tương lai.
Khi quan sát kỹ hơn, ta sẽ thấy mình lầm lẫn về tất cả mọi việc. Chẳng hạn như, khi thương ai nhiều lắm thì mình hoàn toàn phóng đại những phẩm chất tốt đẹp của họ. Hay khi ghét ai lắm thì mình phóng đại những điểm xấu của họ, và không thể nhìn thấy bất cứ điều gì tốt đẹp nơi họ. Càng quán sát nhiều hơn thì càng thấy si mê luôn luôn có mặt đàng sau mọi sự mà mình trải nghiệm.
Nếu nhìn sâu hơn thì ta có thể thấy cơ sở của sự kiện này là sự giới hạn của chính bản thân mình. Chúng ta bị giới hạn vì tâm thức và thân thể của mình. Khi nhắm mắt lại thì dường như toàn bộ thế giới không hiện hữu, mà chỉ có một mình ta. Có một giọng nói trong đầu dường như là “mình”, giống như là mình ở bên trong mình. Điều này rất kỳ lạ. Tuy nhiên, ta đồng hóa mình với nó, vì nó là người luôn luôn phàn nàn, “Mình phải tiến tới; mình phải làm việc này.”. Nó là người luôn lo lắng. Đối với chúng ta, dường như giọng nói bên trong đầu mình là đặc biệt, có một không hai và tồn tại độc lập, không phụ thuộc vào bất kỳ ai khác, bởi vì khi nhắm mắt lại thì không còn ai, ngoài “mình” ra.
Đó là cách suy nghĩ vô cùng lầm lẫn, bởi vì rõ ràng là mình không thể nào tồn tại một cách độc lập, không phụ thuộc vào ai khác, và thật sự là không có ai là đặc biệt cả. Tất cả chúng ta đều là người. Hãy tưởng tượng một trăm ngàn con chim cánh cụt tựu họp ở Nam cực lạnh cóng thì có con nào đặc biệt hơn những con khác? Thật ra, chúng đều như nhau. Chúng ta cũng vậy. Đối với chim cánh cụt thì có lẽ con người cũng đều giống hệt nhau. Dù sao thì dựa trên cơ sở của cách suy nghĩ, “Tôi rất đặc biệt và không phụ thuộc vào bất cứ ai” mà mọi việc phải đi theo ý của mình, và nếu không được như vậy thì mình sẽ nổi giận.
Trên cơ bản thì phần cứng (hardware) của tâm trí và cơ thể của chúng ta dễ có sự lầm lẫn này. Nó có vẻ kỳ quặc, nhưng chủ yếu là kinh nghiệm về thế giới bên ngoài xảy ra từ hai lỗ ở phía trước đầu mình. Tôi không thể thấy những gì đã xảy ra trước đây. Tôi chỉ có thể thấy những gì trong hiện tại; tôi không thể thấy những gì đã xảy ra hay sắp xảy đến. Đó là điều khá hạn hẹp. Rồi lúc về già thì thính giác của mình không còn tốt nữa. Ai đó sẽ nói điều gì và chúng ta nghe không rõ, tưởng là họ nói điều gì khác, rồi mình lại nổi giận. Khi nghĩ về điều này thì sự việc thật là thảm thương.
Vấn đề bao quát là với dạng cơ thể và tâm thức này thì chúng ta liên tục tái sinh hết lần này đến lần khác, khiến cho tâm si mê kéo dài mãi. Dựa trên cơ sở của sự nhầm lẫn này, ta sẽ có hành động phá hoại hay hành động xây dựng một cách bình thường, và đó là điều tạo ra niềm bất hạnh hay hạnh phúc bình thường mà mình sẽ trải nghiệm.
Nếu nhìn sâu hơn nữa thì vấn đề sẽ trở nên rắc rối, và không cần phải đi sâu vào vấn đề trong lúc này, nhưng chính tâm si mê là thủ phạm đưa đến sự tái sinh luôn luôn tái diễn một cách thiếu tự chủ. Đó là nguyên nhân thật sự tạo ra vấn đề của chúng ta. Sự nhầm lẫn hay vô ý thức này thường được dịch là “vô minh”. Tôi không muốn sử dụng danh từ này, vì nó hàm ý là chúng ta ngu xuẩn; nhưng thật ra đó không phải là vấn đề, và nó không phải là ý nghĩa mà chúng ta muốn. Vô ý thức chỉ hàm ý là chúng ta không biết cách mình hay các pháp tồn tại như thế nào. Chúng ta vô ý thức theo ý nghĩa này, giống như cách suy nghĩ mình là người quan trọng nhất, là trung tâm vũ trụ, trong khi trên thực tế thì điều này hoàn toàn trái ngược . Thực tế là chúng ta đều chung sống với nhau ở đây. Không phải là chúng ta ngu xuẩn, mà là thân tâm của mình khiến cho ta suy nghĩ theo cách đó.
Đó là lý do tại sao ta gọi những điều Phật dạy là “Chân Lý Cao Cả”. Những ai thấy được thực tại thì sẽ thấy nó khác với cách mà người khác thấy. Chúng ta thật sự tin vào tâm si mê của mình và những vọng tưởng tương ứng với thực tại. Ta tin tưởng chúng là sự thật. Thậm chí, ta còn không nghĩ đến nó, vì bản năng của mình là “Tôi quan trọng nhất, mọi sự phải xảy ra theo ý của tôi, mọi người nên yêu thương tôi.”. Hoặc giả một số người tin vào điều ngược lại, “Mọi người nên ghét bỏ tôi, tôi không tốt.”. Điều này cũng vậy thôi, nó chỉ là mặt khác của đồng tiền. Đó là tập đế.

Diệu Đế Thứ Ba

Diệu đế thứ ba là điều mà ta có thể gọi là “sự chấm dứt thật sự”. Nó thường được dịch là “chân diệt”, và đề cập đến việc chấm dứt và tiêu diệt tâm si mê là điều khả dĩ, để nó không bao giờ tái phát nữa. Nếu như tiêu diệt được tâm si mê, chính là tập đế, thì ta sẽ tiêu diệt được vấn đề thật sự, là sự thăng trầm và tái sinh thiếu tự chủ, chính là nền tảng của vấn đề. Nếu có thể làm được điều này thì ta sẽ có cái gọi là “giải thoát”. Tôi tin chắc các bạn đều đã thấy những danh từ Phạn ngữ như “samsara”, nói về sự tái sinh thiếu tự chủ, và “nirvana” nói về giải thoát.
Vào thời của Đức Phật, đã có những hệ thống Ấn Độ khác nói về giải thoát khỏi luân hồi. Đó là đề tài phổ biến ở Ấn Độ. Tuy nhiên, Đức Phật thấy rằng các hệ thống ấy không đi sâu đủ để xác định được nguyên nhân thật sự. Bạn có thể tạm thời thoát khỏi những vấn đề tái diễn một cách thiếu tự chủ, chẳng hạn như tái sinh trong cõi trời nào đó, nơi mà tâm bạn trống rỗng qua bao nhiêu a tăng kỳ kiếp, nhưng điều này cũng sẽ chấm dứt. Không hề có sự giải thoát thật sự trong những hệ thống triết lý ấy.
Đức Phật đã khai thị về chân diệt, và việc thấu hiểu cũng như quả quyết rằng mình thật sự có thể tiêu diệt tâm si mê, để nó không bao giờ phát sinh nữa, là điều quan trọng. Nếu không thì tại sao bạn lại cố gắng diệt trừ nó? Nếu không quan tâm đến việc chấm dứt tâm si mê mãi mãi thì thà là ngậm miệng lại, chấp nhận hoàn cảnh và sống sao cho tốt đẹp nhất là xong. Nhiều phương pháp trị liệu có thể xem điều này là mục tiêu sau cùng: học cách sống với nó, hay là uống một viên thuốc!

Diệu Đế Thứ Tư

Diệu đế thứ tư thường được dịch là “chân đạo”, nó giúp ta hiểu về diệu đế thứ ba. Nó đề cập đến trạng thái tâm thức trở thành đường tu đưa đến giải thoát, nếu như ta phát triển nó. Ta còn có thể gọi nó là “đạo lộ tâm thức”, nhưng khó mà dịch chữ này sang những ngôn ngữ khác.
Tâm ta phóng chiếu toàn là rác rến, nhưng còn có nhiều cấp độ khác nhau đối với sự phóng chiếu rác rưởi này. Một cực đoan là chứng tâm thần phân liệt hay hoang tưởng, khi ta thật sự nghĩ rằng tất cả mọi người đều chống đối với mình. Nó cũng có thể ít cực đoan hơn, chẳng hạn như “Đây là miếng bánh sô cô la tuyệt vời nhất mà tôi đã từng thấy. Nếu như mình ăn nó thì sẽ rất sung sướng.”. Điều này đã xảy ra cho tôi trong chuyến bay đến Bucharest, khi máy bay dừng lại ở Vienna. Tôi nghĩ rằng, “Bánh táo của Vienna phải là thứ thượng hảo hạng trên thế giới.”. Tôi đã mua một cái và nó không phải là thứ bánh ngon nhất. Vọng tưởng của tôi về cách sự việc phải như thế nào là rác rưởi. Bánh táo hiện hữu, đó không phải là vọng tưởng trong tâm tôi, nhưng cách mà cái bánh hiện hữu như thứ tuyệt vời nhất, sẽ thật sự làm cho tôi vui sướng thì đã được phóng chiếu từ tâm tôi.
Tương tự như thế, tôi hiện hữu và bạn hiện hữu. Đạo Phật không nói rằng chúng ta không tồn tại. Nó chỉ đơn thuần khẳng định rằng chúng ta phóng chiếu một cách hiện hữu hoàn toàn không phù hợp với thực tại. Chúng ta thật sự có ý tưởng rằng mọi sự tự tồn tại một cách độc lập, đó là cách hiện hữu bất khả dĩ. Mọi sự phát sinh từ nhân duyên, và chúng luôn luôn thay đổi. Tuy nhiên, ta không thấy được điều này; ta chỉ thấy được điều gì ở ngay trước mắt mình. Chẳng hạn như đáng lẽ mình gặp người nào đó, nhưng họ lại không đến. Đối với mình thì dường như người ấy tệ hại, luôn làm mình thất vọng và không ưa chuộng mình nữa. Ta nghĩ rằng cuộc đời họ không lệ thuộc vào đường sá giao thông, vào công việc phải làm thêm ở văn phòng, hay ai biết có thể là chuyện gì khác. Bởi vì mọi việc phát sinh từ nhân duyên, nên việc họ là một người tệ hại từ chính phía họ, không phụ thuộc vào tất cả các yếu tố khác là điều bất khả dĩ. Tuy vậy, tâm ta phóng chiếu ý tưởng này và bám chấp vào nó, tạo ra sự giận hờn, một cảm xúc tiêu cực. Rồi khi gặp họ lần sau, mình sẽ nhìn họ một cách khác biệt và la lối, thậm chí không cho họ cơ hội để giải thích nữa. Qua tất cả những sự kiện này, ta là người thật sự buồn phiền và không vui, đúng không?
Thế thì chúng ta tồn tại, nhưng cách ta nghĩ mình tồn tại một cách đặc biệt và không phụ thuộc vào mọi người thì hoàn toàn là vọng tưởng. Điều này là rác rến. Nó không đề cập đến bất cứ điều gì chân thật. Đó là điều mà chúng ta gọi là “Không tướng” trong đạo Phật, thường được dịch là “tánh Không”. Trong tiếng Phạn, chữ này giống như là “số không”, và có nghĩa là “không có gì”, hoàn toàn vắng bóng bất kỳ điều gì chân thật. Giống như khi ta phóng chiếu rằng người tình mới là một hoàng tử hay công chúa hoàn hảo, cỡi tuấn mã trắng trong chuyện thần tiên, đó là điều không thể xảy ra. Không có ai tồn tại như thế, nhưng chúng ta vẫn luôn tìm kiếm một người như vậy. Rồi khi người đó không sống đúng với kỳ vọng của mình thì ta sẽ thất vọng và đi tìm một người khác, dù rằng mình đang tìm kiếm một điều bất khả dĩ.
Thế thì đạo đế của tâm thức là thấu hiểu tất cả những điều này là rác rến, rằng không có điều gì chân thật phù hợp với vọng tưởng của mình. Nếu nhìn vào tập đế thì nó là nỗi khổ bắt nguồn từ sự tin tưởng rằng vọng tưởng của mình phù hợp với điều gì đó chân thật. Việc phóng chiếu ảo tưởng của mình và thực tại là hai điều hoàn toàn khác nhau. Tôi xin lập lại, tâm mê lầm là nghĩ rằng vọng tưởng này tương ứng với điều gì thật, và hiểu biết đúng đắn là thấy được không hề có chuyện này. Nói một cách đơn giản, một là có điều gì phù hợp, hai là không. Một là có, hai là không, ta không thể nghĩ rằng cả hai đều đúng cùng một lúc.
Bây giờ, ta có thể phân tích xem điều nào mạnh mẽ hơn đối với mình: “có” hay là “không”? Nếu như quán xét bằng lý lẽ thì hiển nhiên câu trả lời là “không”, vì “có” không đứng vững với lý lẽ. Khi tôi nhắm mắt lại thì có phải những người khác ngưng tồn tại hay không? Không, dĩ nhiên là không. Có phải mọi việc phải luôn xảy ra theo ý của tôi không, vì tôi là người quan trọng nhất thế giới? Không, đó là điều lố bịch. Càng khảo sát nhiều hơn thì ta có thể khởi sự đặt câu hỏi với cái “tôi” nhỏ bé ở trong đầu nhiều hơn. Nếu bắt đầu phân tích bộ óc thì cái “tôi” đang nói trong đầu mình và đưa ra quyết định ở đâu trong bộ óc? Nói một cách chính xác thì điều gì đang xảy ra? Dựa trên sự phân tích thì không thể tìm ra cái mà chúng ta có thể gọi là “tôi”. Dĩ nhiên là tôi có sinh hoạt, tôi làm các việc, tôi nói năng. Chúng ta không chối bỏ điều này. Cái mà ta chối bỏ là có một cái “tôi” vững chắc mà mọi việc đều phải xảy ra theo ý muốn của mình, bởi vì không có một cái “tôi” nào như vậy được lý lẽ ủng hộ. Nhờ sự khảo sát và một số lý do mà chúng ta có thể thấy rằng một cái tôi như vậy không hề hiện hữu, thế nên sự lầm lẫn cho rằng nó phù hợp với điều gì chân thật sẽ không được bất cứ điều gì hỗ trợ.
Kết quả của việc nghĩ rằng mình tồn tại một cách bất khả dĩ là gì? Nó sẽ khiến cho mình buồn phiền! Kết quả của việc nghĩ rằng một cái tôi như vậy không hề hiện hữu là gì? Ta sẽ thoát khỏi tất cả những vấn đề này. Khi nghĩ rằng, “Không có một cái tôi như vậy, đó là rác rưởi”, thì đồng thời, tôi không thể nào nghĩ rằng nó phù hợp với điều gì chân thật. Hiểu biết đúng đắn có thể lấn áp và thay thế hiểu biết sai lầm. Nếu ta có thể chú trọng vào hiểu biết đúng đắn trong mọi lúc thì tâm mê lầm sẽ không bao giờ phát sinh nữa.
Ở đây cũng vậy, khai thị của Đức Phật rằng hiểu biết đúng đắn về thực tại có thể thay thế sự hiểu lầm, đem lại giải thoát khỏi khổ đau và tái sinh thì không có gì đặc thù. Các hệ thống khác ở Ấn Độ cũng khẳng định điều này. Điểm đặc thù là sự thông hiểu cụ thể có thể tiêu diệt cấp độ mê lầm vi tế nhất về thực tại mãi mãi. Để đạt được định tâm hoàn hảo qua thiền định, để khắc sâu sự thấu hiểu đúng đắn trong tâm thức và thành tựu sự chấm dứt của tâm mê lầm, Đức Phật đã sử dụng các phương pháp thông dụng với tất cả các truyền thống Ấn Độ.
Động lực chính là điều mang lại sức mạnh cho tâm thức, để tâm có thể giữ gìn sự thấu hiểu đúng đắn về thực tại, nhằm tiêu diệt mọi cảm xúc tiêu cực. Đó là thời điểm mà lòng từ, lòng bi, và vân vân có mặt, bởi khi thấy rằng tất cả chúng ta đều tương quan lẫn nhau, tất cả mọi người đều mong muốn được hạnh phúc như mình thì ta cần phải tiêu diệt tâm mê lầm, để có thể giúp đỡ tha nhân một cách trọn vẹn.
Đây là sự trình bày cơ bản về Tứ Diệu Đế. Để thấu hiểu đề tài này sâu sắc hơn thì cần phải học hỏi thêm về sự thấu hiểu về tâm và nghiệp trong đạo Phật.

Tóm tắt

Tuy đạo Phật có những điểm tương đồng với nhiều tôn giáo lớn và các hệ thống triết học khác, Tứ Diệu Đế, bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật, là sự trình bày duy nhất về cách chúng ta hiện hữu, về nỗi khổ mình phải kinh qua, và cách ta có thể khắc phục vấn đề.
Đức Phật thường được so sánh như một vị lương y. Vị lương y sẽ xác nhận là chúng ta bị bệnh, giống như Đức Phật đã nêu ra vô số nỗi khổ mà chúng sinh phải chịu đựng ở khắp nơi. Vị lương y sẽ tìm ra nguyên nhân của căn bệnh, tựa như Đức Phật đã nêu ra nguyên nhân thật sự là tâm mê lầm về cách chúng ta hiện hữu. Rồi vị lương y cho biết có thể trị dứt căn bệnh hay không, và kê toa thuốc, nếu có thể chữa bệnh. Cũng như thế, Đức Phật đã thuyết giảng về diệt đế và cách thành tựu điều này. Sau cùng thì mọi việc tùy thuộc vào mỗi một người chúng ta có chịu uống thuốc, hay tiến bước trên đường tu hay không, nếu như muốn khắc phục nỗi khổ của riêng mình.HET=NAM MO A DI DA PHAT.( 3 LAN ).NIEM PHAT DUONG KIM LIEN.THICH NU TAM GIAC.AUSTRALIA,SYDNEY.30/10/2017.

Tu Tập Theo Giáo Pháp và Lánh Xa Đau Khổ.


Thuật ngữ Dharma trong tiếng Phạn, chö (chos) theo tiếng Tây Tạng, có nghĩa là giữ vững, hay duy trì. Duy trì và giữ vững điều gì? Đó là đoạn trừ đau khổ và thành tựu hạnh phúc. Giáo Pháp không chỉ thực hiện điều này cho chúng ta, mà cho toàn thể chúng sinh.


Nhận Diện Đau Khổ

Nỗi khổ mà ta trải qua gồm hai loại: loại khổ mà con người có thể nhìn thấy ngay lập tức, và loại khổ mà ta không thể thấy được, nếu không có năng lực ngoại cảm. Loại khổ thứ nhất liên quan đến sự đau đớn trong quá trình sinh ra, cảm giác khó chịu mỗi khi lâm bệnh, nỗi khổ tâm vì tuổi già và sự lão hóa, và nỗi khiếp sợ về cái chết.
Người bình thường không thể nhìn thấy những nỗi khổ sau khi chết. Ta có thể nghĩ rằng sau khi chết, mình có thể tái sinh làm người. Tuy nhiên, không nhất thiết phải như vậy. Không có lý do hợp lý nào để ta cho rằng một sự tiến hóa như vậy sẽ xảy ra. Điều này cũng không có nghĩa là ta sẽ hoàn toàn không tái sinh sau khi chết.
Việc ta sẽ tái sinh vào cõi nào thì rất khó biết, đây là điều ngoài tầm hiểu biết của mình hiện nay. Nếu như ta tích lũy thiện nghiệp trong suốt cuộc đời này, điều tự nhiên là ta sẽ có được những tái sinh hạnh phúc trong tương lai. Ngược lại, nếu như chỉ tạo ra phần lớn ác nghiệp, ta sẽ không có một tái sinh hạnh phúc, mà phải chịu đựng những nỗi khốn khó lớn lao ở các cõi thấp. Đây là điều chắc chắn. Sự tái sinh vận hành như vậy. Nếu ta gieo một hạt lúa mì, một cây lúa mì sẽ mọc lên. Nếu ta gieo một hạt lúa, một cây lúa sẽ sản sinh ra. Cũng như vậy, bằng cách tạo ác nghiệp, ta sẽ gieo hạt giống của sự tái sinh vào một trong ba cõi thấp như địa ngục, ngạ quỷ, hoặc súc sinh.
Có bốn trạng thái hay bốn cõi địa ngục (cõi bất hỷ lạc): địa ngục nóng, địa ngục lạnh, địa ngục cận biên và địa ngục cô độc. Nếu phân loại chi tiết hơn, có tám địa ngục nóng. Tầng thứ nhất trong tám địa ngục nóng là Đẳng Hoạt Địa Ngục (Reviving Hell). Nói một cách tương đối thì đây là địa ngục ít đau khổ nhất. Để hiểu được mức độ thống khổ ở địa ngục này, sự đau đớn của một người bị thiêu đốt trong một ngọn lửa lớn được cho là rất nhẹ nhàng so với nỗi đau của chúng sinh trong tầng địa ngục nóng thứ nhất. Mức độ thống khổ ngày càng gia tăng ở mỗi một tầng địa ngục thấp hơn Đẳng Hoạt Địa Ngục.
Mặc dù không thể nhìn thấy nỗi khổ của chúng sinh trong cõi địa ngục và ngạ quỷ, ta có thể tận mắt nhìn thấy nỗi khổ của các súc sinh. Nếu tự hỏi mình sẽ ra sao nếu sinh ra làm thú vật, ta chỉ cần nhìn những con vật ngoài đường phố và loài vật phải thồ hàng nặng nhọc xung quanh ta ở đây, tại Ấn Độ, và thử nghĩ xem nếu mình rơi vào hoàn cảnh của chúng thì sẽ ra sao. Giáo Pháp là điều giữ gìn và bảo vệ ta, giúp ta thoát khỏi những kinh nghiệm đau khổ ở những cõi thấp này.
Toàn bộ bánh xe tái sinh, toàn bộ sự luân sanh thiếu kiểm soát (luân hồi), có bản chất khổ đau. Giáo Pháp là điều bảo vệ ta khỏi mọi nỗi khổ của kiếp luân hồi. Hơn thế nữa, Giáo Pháp Đại Thừa, giáo lý của Cỗ Xe Lớn, không chỉ bảo vệ chúng ta, mà còn bảo vệ tất cả những chúng sinh khác (chúng sinh hữu tình).

Quy Y

Trong đạo Phật, ta sẽ nghe nói nhiều về Quy Y Tam Bảo – Phật, Pháp, và Tăng. Đối tượng quy y thứ nhất bao gồm tất cả những bậc toàn giác, những vị giảng dạy Giáo Pháp. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Buddha Shakyamuni), người đã chuyển Pháp luân lần thứ nhất ở Ba La Nại (Varanasi) khi thuyết giảng Tứ diệu đế, là bậc thầy quan trọng nhất đối với chúng ta. Chân lý cuối cùng trong Tứ diệu đế – đạo đế – chính là Giáo Pháp phải được hành trì để đạt được giải thoát. Đây chính là đối tượng quy y, gọi là Pháp Bảo.
Sự hành trì Giáo Pháp đòi hỏi hai yếu tố: nhận diện ra nguồn gốc của nỗi khổ luân hồi và đoạn trừ nguồn gốc này. Nguồn gốc của luân hồi là gì? Đó là sự bám chấp vào một tự ngã thật sự tồn tại và sự hiện hữu chân thật của vạn pháp. Ta cần phải phát triển tâm thù ghét sự bám chấp này, vốn là điều mang đến mọi khổ đau cho chúng ta. Ta phải phát triển sự thấu hiểu về pháp đối trị tâm bám chấp vào sự hiện hữu chân thật này. Pháp đối trị này chính là trí tuệ (trí bát nhã) về vô ngã. Chính sự thấu hiểu về vô ngã này sẽ giải thoát ta khỏi khổ đau.
Nỗi khổ mà ta kinh nghiệm trong luân hồi không thể nào xảy ra mà không có nguyên nhân. Nguyên nhân của khổ là những cảm xúc cùng thái độ phiền não (ảo tưởng) và nghiệp do chúng tạo ra. Căn nguyên của mọi cảm xúc, thái độ phiền não và của nghiệp chính là tâm chấp ngã. Khi hiểu được điều này, ta sẽ khát khao có được pháp đối trị với tâm chấp ngã này. Vì sao ta chưa phát triển được pháp đối trị trong dòng tâm thức của mình? Vì sao ta không hiểu tính vô ngã? Một nguyên nhân là ta không có đủ ý thức về cái chết và vô thường.

Cái Chết và Vô Thường

Một kết cuộc khả dĩ duy nhất của sinh là tử. Ta chắc chắn sẽ chết. Không có cuộc đời của một chúng sinh nào lại không kết thúc bằng cái chết. Người ta cố gắng thử nhiều phương pháp để ngăn ngừa cái chết xảy ra, nhưng điều đó bất khả thi. Không có thuốc men nào có thể giúp cho chúng ta thoát chết.
Nếu chỉ đơn thuần nghĩ rằng, “Tôi sẽ chết,” thì thật sự không phải là cách đúng đắn để quán chiếu về cái chết. Tất nhiên, ai rồi cũng sẽ chết, nhưng chỉ đơn giản nghĩ về hiện thực này thì không hiệu quả lắm. Đó không phải là phương pháp đúng đắn. Tương tự như vậy, nếu chỉ nghĩ về hiện thực rằng mình sẽ suy thoái và tan rã, cơ thể mình sẽ phân hủy. thì không đủ. Điều mà ta phải suy nghĩ là làm thế nào để ngăn ngừa sự suy sụp của bản thân.
Nếu như ta nghĩ về nỗi sợ hãi sẽ xảy ra vào thời điểm của cái chết và cách diệt trừ nỗi sợ ấy, thì công phu thiền quán của ta về cái chết sẽ có hiệu quả. Những người đã tích tập một số ác nghiệp to lớn trong suốt cuộc đời sẽ vô cùng khiếp sợ vào phút lâm chung. Họ khóc, nước mắt họ lăn dài trên má, họ chảy nước dải, bài tiết ra cả áo quần và tinh thần họ hoàn toàn bị áp đảo. Đây là những dấu hiệu rõ ràng của nỗi thống khổ sẽ xảy ra vào thời điểm của cái chết, bởi nỗi sợ hãi đã sản sinh ra từ những ác hạnh họ đã tạo ra trong suốt cuộc đời.
Một cách khác là nếu như tránh tạo ra ác nghiệp trong suốt đời, ta sẽ rất dễ dàng đối mặt với thời điểm của cái chết. Kinh nghiệm của ta sẽ là niềm vui, như sự vui mừng của một đứa trẻ được về nhà với cha mẹ nó. Nếu đã tịnh hóa bản thân, ta có thể chết một cách hạnh phúc. Bằng cách kềm chế mười nghiệp bất thiện và trau dồi những điều ngược lại, tức mười thiện nghiệp, cái chết của ta sẽ dễ dàng và kết quả là ta sẽ không phải trải qua tái sinh trong một hoàn cảnh đau khổ. Ta có thể yên tâm rằng mình sẽ tái sinh vào những tình trạng may mắn hơn. Bằng cách gieo hạt giống thảo dược, ta sẽ thu hoạch được những cây có dược tính. Nếu gieo hạt giống của những cây độc hại, ta chỉ tạo ra các quả độc. Nếu ta gieo hạt giống của hành vi xây dựng trong tâm thức, ta sẽ trải nghiệm hạnh phúc trong kiếp lai sinh. Ta sẽ gặp thuận duyên về cả hai mặt, thân và tâm. Giáo huấn cơ bản của Phật pháp, đó là ngăn ngừa ác hạnh và trau dồi thiện hạnh, được trình bày không chỉ trong Phật giáo, mà còn ở nhiều tôn giáo khác, kể cả Cơ Đốc giáo (Christianity).
Chúng ta sẽ quán chiếu về cái chết và vô thường như thế nào? Như đã đề cập ở trên, chỉ đơn thuần nghĩ, “Tôi sẽ chết,” không mang lại nhiều lợi ích. Ta cần phải nghĩ, “Nếu tôi đã thực hiện bất cứ điều gì trong mười nghiệp bất thiện, khi chết, tôi sẽ phải đối mặt với nhiều nỗi sợ hãi và đau khổ, và hậu quả là tôi sẽ có một tái sinh bất hạnh. Mặt khác, nếu như suốt đời, tôi đã tích lũy được nhiều thiện nghiệp (công đức), khi chết, tôi sẽ không phải trải qua sự sợ hãi hay đau khổ và sẽ được tái sinh vào một cõi giới may mắn hơn.” Đó là phương cách đúng đắn để quán chiếu về cái chết.
Việc thiền quán này không nhất thiết chỉ là những suy nghĩ u sầu, bi quan, “Tôi sẽ chết và tôi chẳng thể làm gì được.” Thay vào đó, ta cần phải nghĩ điều gì sẽ xảy ra vào lúc chết. “Sau khi chết, tôi sẽ đi về đâu? Tôi đã tạo ra những loại nhân nào? Tôi có thể chết một cách hạnh phúc không? Làm sao để thực hiện được điều này? Tôi có thể làm cho những tái sinh của mình được hạnh phúc không? Bằng cách nào?”
Khi quán chiếu về những kiếp tương lai, ta cần nhớ rằng không nơi nào trong cõi luân hồi là đáng tin cậy. Bất kể là ta sẽ sinh ra trong loại hình hài nào, cuối cùng, nó cũng phải chết. Ta đã đọc trong lịch sử có những người sống đến hàng trăm hay hàng nghìn năm. Tuy nhiên, dù những trường hợp này có ly kỳ như thế nào, cuối cùng, không có ai là không phải chết. Bất cứ dạng thân xác nào mà ta có được trong cõi luân hồi cũng đều phải chết. Cũng không có nơi chốn nào ta có thể đến để thoát khỏi cái chết. Bất kể ở đâu, khi đến đúng thời điểm, ta sẽ phải chết. Rồi thì không có thuốc men nào, thần chú nào, hay sự hành trì nào có thể giúp ta. Các phẫu thuật có thể chữa lành một số căn bệnh trong cơ thể ta, nhưng không có phẫu thuật nào có thề ngăn chận được cái chết.
Bất kể tái sinh vào cõi nào, ta cũng sẽ chết. Tiến trình sẽ luôn luôn tiếp diễn. Quán chiếu về những hệ quả lâu dài từ các hành vi của bản thân và về cách tiến trình sinh ra, sống, chết và tái sinh tiếp diễn ra sao sẽ giúp ta tạo nên nhiều thiện nghiệp.
Mặc dù đôi lúc ta có dự định cho việc tu tập Pháp, ta thường lên kế hoạch sẽ thực hiện điều này vào ngày mai, hay ngày kế tiếp. Tuy nhiên, không ai trong chúng ta biết được mình sẽ chết vào lúc nào. Nếu có một sự bảo đảm rằng mình chắc chắn còn sống được 100 năm nữa, ta sẽ có thời gian thoải mái để sắp xếp việc hành trì. Tuy nhiên, không có một sự chắc chắn nhỏ bé nào về thời điểm mà ta sẽ chết. Trì hoãn việc tu tập là điều rất dại dột. Một số người thậm chí chết trong bụng mẹ trước khi được sinh ra, những người khác chết khi còn là một đứa trẻ chưa biết đi. Không có gì đảm bảo ta sẽ sống lâu cả.
Cơ thể ta rất mong manh. Nếu chúng được làm bằng sắt hay đá, có lẽ chúng sẽ khiến ta cảm thấy vững vàng hơn. Nhưng nếu xem xét kỹ, ta sẽ thấy cơ thể con người rất yếu ớt. Nó rất dễ bị trục trặc ở đâu đó. Nó giống như một chiếc đồng hồ đeo tay tinh vi được tạo ra từ vô số bộ phận nhỏ bé dễ vỡ. Nó không phải là điều đáng tin cậy. Có rất nhiều tình huống có thể gây ra cái chết như: ngộ độc thực phẩm, bị một côn trùng nhỏ đốt, hay thậm chí bị cây gai độc đâm trúng. Những việc nhỏ như vậy có thể giết hại ta. Thực phẩm và thức uống mà ta dùng để duy trì cuộc sống có thể trở thành tình huống kết liễu đời mình. Không có gì chắc chắn về thời điểm ta sẽ chết, hay hoàn cảnh nào sẽ dẫn đến cái chết của mình.
Thậm chí, nếu ta chắc chắn rằng mình sẽ sống 100 năm, nhiều năm trong khoảng thời gian này đã trôi qua mà ta vẫn chưa hoàn thành được bao nhiêu việc. Ta tiến dần đến cái chết như một người ngủ say trên toa xe lửa, đang liên tục tiến gần đến đích, mà không hay biết gì về tiến trình này. Ta không thể làm gì nhiều để chấm dứt tiến trình này. Ta cứ liên tục tiến dần đến cái chết.
Bất kể bao nhiêu tiền bạc, châu báu, nhà cửa hay áo quần mà ta đã tích lũy được trong suốt cuộc đời, chúng sẽ không tạo ra sự khác biệt nào vào thời điểm của cái chết. Khi chết, ta phải ra đi với hai bàn tay trắng. Thậm chí, ta không thể mang theo một vật dụng nhỏ bé nhất. Chính cơ thể ta cũng bị bỏ lại. Cơ thể và tâm thức tách rời nhau và dòng tâm thức tiếp tục một mình nó. Không những không thể mang theo một tài sản nào, ta cũng không thể mang theo thân xác của mình.

Nghiệp

Sau khi ta chết, cái gì sẽ đi cùng với ý thức? Nếu ta phải từ bỏ thân xác, bạn bè, và tất cả tài sản của mình, có trợ thủ nào hay bất cứ điều gì sẽ đi cùng với ý thức của ta đến kiếp sống tương lai hay không?
Có một thứ sẽ đi theo ý thức sau khi chết: các chủng tử (hạt giống) mà chúng ta đã tích tập trong suốt cuộc đời này. Nếu ta đã phạm phải bất cứ điều gì trong mười điều bất thiện, một chủng tử tiêu cực hay món nợ nghiệp sẽ đi kèm với dòng tâm thức của ta đến những kiếp tương lai. Khi ta giết hại các chúng sinh khác, trộm cắp tài sản của người khác, hoặc ham mê tà dâm, các chủng tử tiêu cực từ những hành vi tiêu cực của thân sẽ được gieo vào dòng tâm thức. Khi ta nói dối, vu khống người khác và chia rẽ mọi người, gây tổn hại cho người khác bằng lời nói, hoặc nói những lời vô nghĩa, những món nợ nghiệp tiêu cực từ những hành vi tiêu cực bằng lời nói sẽ theo ta vào phút lâm chung. Nếu ta có những ý tưởng tham lam, thường là mong muốn có được tài sản của người khác; nếu ta có ác tâm đối với người khác, muốn họ bị tổn thương hay gặp phải điều gì tồi tệ; hoặc nếu ta có những suy nghĩ sai trái và lệch lạc, ví dụ như “không có kiếp quá khứ hay kiếp tương lai,” “không hề có nhân quả,” “không hề có điều gì gọi là quy y,” những hành vi tiêu cực của tâm sẽ tạo ra những chủng tử tiêu cực cùng du hành với tâm thức, dẫn dắt nó đến kiếp sống tương lai.
Điều ngược lại cũng đúng. Nếu ta đã tạo ra các thiện hạnh và từ bỏ những hành động tiêu cực, các chủng tử của năng lượng tích cực sẽ theo dòng tâm thức và tạo nên những hoàn cảnh tốt đẹp hơn trong những kiếp sống tương lai.
Khi thật sự nghĩ về hoàn cảnh hiện tại, ta sẽ quyết tâm bằng mọi cách gầy dựng nhiều thiện nghiệp và tiêu trừ ác nghiệp. Ta cần tịnh hóa tối đa những điều tiêu cực của bản thân, không để sót lại dù là món nợ nghiệp nhỏ nhất, khiến ta phải đền bồi lại trong những kiếp sống tương lai.
Ta cần phải nhìn rõ những loại hệ quả nào có thể xảy ra trong luật nhân quả. Có một trường hợp một người có rất nhiều phẩm tính tốt đẹp, nhưng lại thô lỗ trong lời nói. Anh ta đã lăng mạ người khác, khi nói rằng, “Anh nói chuyện như một con chó.” Kết quả là chính anh ta đã tái sinh làm chó trong 500 kiếp. Một hành vi tưởng chừng nhỏ bé, lại có thể gây ra hệ quả lớn lao.
Tương tự như vậy, một thiện hạnh nhỏ bé có thể tạo nên thành quả to lớn. Có trường hợp của một đứa trẻ đã có một sự cúng dường khiêm tốn cho Đức Phật, kết quả là đứa trẻ đã tái sinh làm vua A Dục (Ashoka), người đã xây dựng hàng nghìn công trình tưởng niệm Phật giáo và thực hiện vô số thiện hạnh siêu phàm.

Tâm Xả Ly và Lòng Bi Mẫn

Quán chiếu về những loại hành vi tiêu cực mà ta đã gây ra và hậu quả của chúng là một cách rất hiệu quả để bảo đảm cho phúc lợi và hạnh phúc của bản thân. Khi nghĩ về đau khổ mà bản thân ta phải gánh chịu từ kết quả của nghiệp tiêu cực, và nhờ vậy, khiến cho ước muốn không phải trải qua sự thống khổ này phát sinh một cách mạnh mẽ, khi ấy, ta đã phát triển được “tâm xả ly.”
Làm quen dần với lối suy nghĩ này là một dạng thiền quán. Trước hết, ta cần phải phát triển chánh niệm về nỗi khổ của chính mình; sau đó, ta cần mở rộng chánh niệm này đến toàn thể chúng sinh. Hãy xem xét về cách tất cả chúng sinh đều không muốn bất cứ một nỗi khổ nào, nhưng lại vướng vào tình trạng khó khăn đầy đau khổ. Cách suy nghĩ này sẽ giúp ta phát khởi lòng bi mẫn. Nếu không phát triển được ước muốn thoát khỏi mọi đau khổ của chính mình, làm sao ta có thể phát triển ước mong cho những chúng sinh khác thoát khỏi nỗi khổ của họ? Ta có thể chấm dứt mọi nỗi khổ của bản thân, nhưng điều đó chưa phải là lợi ích rốt ráo. Ta cần phải mở rộng tâm nguyện này đến toàn thể chúng sinh hữu tình, những chúng sinh cũng khát khao hạnh phúc. Ta có thể tôi luyện tâm thức và phát triển ước mong tất cả chúng sinh hoàn toàn thoát khổ. Đây là lối suy nghĩ phóng khoáng hơn và mang đến nhiều lợi ích hơn.
Tại sao ta cần phải quan tâm đến chúng sinh khác? Vì ta đã thọ nhận quá nhiều từ họ. Ví dụ, sữa mà ta uống bắt nguồn từ lòng tốt của loài bò và trâu, quần áo ấm giúp ta chống lạnh và gió rét xuất phát từ lông của loài cừu và dê, v.v… Đây chỉ là một vài ví dụ cho thấy vì sao ta cần phải cố gắng tìm ra một giải pháp, nhằm đoạn trừ đau khổ của chúng sinh.
Bất kể hành trì pháp môn nào – trì tụng minh chú hay bất cứ pháp thiền nào – ta cần phải luôn ghi nhớ ý tưởng này, “Nguyện cho sự hành trì này mang lại lợi lạc cho toàn thể chúng sinh.” Điều này cũng sẽ mang đến lợi lạc cho bản thân mình một cách tự nhiên. Những hoàn cảnh bình thường trong cuộc sống có thể giúp ta nhận ra giá trị của điều này. Ví dụ, nếu một người rất ích kỷ và chỉ hành động cho lợi ích bản thân, anh ta sẽ không được người khác yêu mến. Ngược lại, người nào tử tế và luôn nghĩ đến việc giúp đỡ người khác thì thường được mọi người quý mến.
Tư tưởng cần được phát triển trong dòng tâm thức ta là, “Nguyện cho tất cả mọi người đều được hạnh phúc và nguyện cho không một ai phải đau khổ.” Ta phải cố gắng kết hợp tư tưởng này vào dòng tâm thức của mình bằng cách nhớ nghĩ về nó nhiều lần. Điều này có thể vô cùng lợi lạc. Những chúng sinh nào trong quá khứ đã phát triển được tư tưởng này hiện tại đều là những vị Phật, bồ tát, hay những vị thánh; tất cả những người thật sự vĩ đại trên thế giới cũng đều xem tư tưởng này là kim chỉ nam. Nếu chúng ta có thể cố gắng phát khởi tư tưởng này thì tuyệt diệu biết bao!

Nghiệp Quả của Việc Gây Tổn Hại Đến Người Khác để Bảo Vệ Người Thân của Mình

Có phải chúng con được khuyên không nên tự vệ khi có ai hãm hại mình?
Câu hỏi này mở ra một chủ đề rất rộng lớn. Nếu có ai dùng gậy hay dùi cui đánh vào đầu bạn, phản ứng tốt nhất là quán chiếu rằng bạn phải trải qua việc này vì hành động tiêu cực trong quá khứ của bạn. Hãy nghĩ rằng người đó đã làm cho chủng tử này chín ngay bây giờ, thay vì ở thời điểm nào đó trong tương lai. Bạn cần phải biết ơn người này vì anh ta đã giúp bạn tiêu trừ món nợ ác nghiệp này trong dòng tâm thức của bạn.
Con phải làm gì nếu có người tấn công vợ hay con của con, những người mà con phải che chở? Con có nên bảo vệ họ không? Đó có phải là hành động tiêu cực không?
Bởi vì nghĩa vụ và trách nhiệm của bạn là phải bảo vệ cho vợ con, bạn phải cố gắng hành động một cách khéo léo nhất. Bạn phải khôn ngoan. Cách tốt nhất là bảo vệ họ mà không gây tổn hại cho người đã tấn công họ. Nói cách khác, bạn cần phải tìm một cách thức bảo vệ họ mà không gây ra bất cứ sự tổn thương nào.
Anh ta có thể làm tổn thương các con của con, nhưng con không được làm hại anh ta ư? Không phải nghĩa vụ của chúng con là bảo vệ con cái của mình tránh khỏi những hành vi dã man và tàn nhẫn hay sao? Nếu chỉ hy sinh mạng sống của mình thì có được không?
Để đối phó với tình huống này một cách khéo léo, bạn cần phải rất dũng cảm. Có một sự tường thuật về một tiền kiếp của Đức Phật, khi đó, Ngài là một thủy thủ ra khơi cùng một nhóm gồm có 500 người, để đi tìm kho báu đã được chôn giấu. Có một người trong đoàn rất tham lam và để chiếm đoạt hết châu báu cho riêng mình, anh ta đã mưu toan giết hại 500 người kia. Vị bồ tát (tức là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni trong tiền kiếp) biết được âm mưu này, và nghĩ rằng nếu như để tình trạng này tiếp diễn thì sẽ là điều sai trái, vì một người sẽ giết cả 500 người. Do đó, vị bồ tát này đã có ý nghĩ vô cùng dũng cảm để cứu 500 người bằng cách giết chết người nọ, sẵn sàng nhận lãnh mọi trách nhiệm về việc giết người. Nếu bạn sẵn sàng chấp nhận việc tái sinh vào địa ngục để cứu người khác, bạn có một tư tưởng rất dũng cảm. Rồi thì bạn có thể thực hiện những hành động này, như Đức Phật đã làm.
Trong những tình huống như vậy thì giết người có bị xem là một hành vi tiêu cực không?
Ngài Long Thọ (Nagarjuna) đã viết trong Bức Thơ cho Một Người Bạn (Letter to a Friend) rằng nếu một người thực hiện hành động tiêu cực dưới danh nghĩa để bảo vệ cha mẹ, con cái, Phật pháp, hay Tam Bảo, người ấy sẽ phải gánh chịu hậu quả. Sự khác biệt là ở chỗ bạn có nhận thức được các hậu quả và có sẵn sàng gánh chịu chúng để bảo vệ vợ con một cách vị tha hay không? Nếu bạn hãm hại kẻ thù, bạn sẽ trải qua một tái sinh đau khổ. Tuy nhiên, bạn cần phải sẵn sàng đối mặt với hệ quả này bằng ý nghĩ, “Tôi sẽ tự mình gánh chịu nỗi khổ đó và vợ con tôi sẽ không phải khổ.”
Như vậy thì theo đạo Phật, đó vẫn là một hành vi tiêu cực?
Bảo vệ vợ con là hành vi tích cực, nhưng hãm hại kẻ thù là hành vi tiêu cực và hủy hoại. Bạn phải sẵn sàng chấp nhận hệ quả của cả hai.
Ngài nói rằng nếu ai gây ác nghiệp thì sẽ chịu đau khổ trong tương lai, còn ai làm việc tốt thì sẽ có hạnh phúc. Những thiện hạnh này có thể dẫn tới sự cứu độ hoàn toàn hay không, nghĩa là không phải trải qua sự tái sinh nữa?
Nếu bạn muốn đạt được sự cứu độ, bạn phải tu tập theo các giáo lý một cách toàn vẹn và chính xác. Ví dụ, nếu bạn theo con đường Cơ Đốc giáo, bạn phải tu tập theo giáo lý của Chúa Giê-su (Christ) một cách hoàn hảo. Rồi thì sự cứu rỗi của Cơ Đốc giáo là điều khả thi. Một mình Chúa Giê-su không thể cứu chúng ta thoát khỏi tội lỗi của mình; bản thân chúng ta phải làm điều gì đó. Nếu không, tại sao Chúa Giê-su lại dạy rằng không được gây ra tội lỗi? Nếu chúng ta noi theo những lời dạy của Chúa Giê-su một cách đúng đắn, tôi nghĩ rằng sự cứu rỗi của Cơ Đốc giáo là khả thi. Nếu chúng ta noi theo các giáo huấn của Đức Phật một cách đúng đắn, thì sự “cứu độ” trong Phật giáo – tức sự giải thoát – là điều khả thi.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).NIEM PHAT DUONG KIM LIEN.THICH NU TAM GIAC.AUSTRALIA,SYDNEY.30/10/2017.

Tất Cả Mọi Người Đều Có Thể Thành Phật.


Nếu mục tiêu của cuộc đời là hạnh phúc lâu dài cho bản thân và người khác thì việc nỗ lực hướng về mục tiêu ấy một cách thực tế là điều có ý nghĩa và hợp lý nhất. Dù vật chất có thể mang lại chút ít hạnh phúc, nhưng cội nguồn của hạnh phúc chân thật chính là tâm mình. Khi đã phát triển trọn vẹn khả năng và khắc phục mọi khiếm khuyết thì ta sẽ trở thành Phật, là cội nguồn hạnh phúc không chỉ riêng cho bản thân, mà cho tất cả mọi người. Chúng ta có thể thực hiện điều này; ai cũng đều có thể thành Phật, vì tất cả chúng ta đều có những yếu tố đầy đủ bên trong để giúp mình đạt được mục tiêu ấy. Tất cả mọi người đều có Phật tánh.


Phật giáo nhấn mạnh rằng tất cả mọi người đều có thể thành Phật, nhưng thành Phật có nghĩa là gì? Một vị Phật là người đã hoàn toàn loại trừ tất cả các khiếm khuyết, sửa sai mọi thiếu sót và chứng ngộ mọi tiềm năng. Ngay từ đầu, họ cũng giống như ta, là chúng sanh phàm trần, gặp nhiều khó khăn trong đời sống. Vì vô minh về thực tại, có những vọng tưởng phi thực tế mà lại tin vào chúng, nên khó khăn tiếp tục xảy ra ngoài vòng kiểm soát của họ, và kết quả là phiền não và hành vi bốc đồng. Tuy nhiên, họ đã nhận thức rằng vọng tưởng không phù hợp với thực tế, và nhờ có quyết tâm mạnh mẽ để thoát khỏi nỗi khổ mà tâm vô minh đã tạo ra, nên cuối cùng, họ không còn tin tưởng vào những ảo tưởng trong tâm nữa. Nhờ vậy mà họ không còn phiền não và chấm dứt mọi hành vi bốc đồng.
Trong quá trình này, họ đã tăng trưởng những cảm xúc tích cực như lòng từ bi bình đẳng cho tất cả chúng sinh, và giúp đỡ tha nhân tối đa. Họ đã trưởng dưỡng lòng từ cho tất cả chúng sinh như tình thương của mẹ dành cho đứa con duy nhất. Nhờ mãnh lực của lòng từ bi mãnh liệt hướng về tất cả, cùng tâm nguyện phổ độ tất cả chúng sinh mà sự thấu hiểu về thực tại của họ ngày càng trở nên mạnh mẽ hơn. Sau cùng, nó mạnh mẽ đến độ tâm họ không còn phóng chiếu những hiện tướng lừa đảo rằng vạn pháp và tất cả chúng sinh tự mình tồn tại, tách rời với những pháp khác. Họ thấy rõ, không một chút trở ngại nào, rằng tất cả các pháp tồn tại đều tương quan và phụ thuộc lẫn nhau.
Nhờ thành tựu này mà họ đạt được giác ngộ và trở thành Phật. Thân tâm và khả năng truyền đạt tư tưởng của họ đã vượt qua mọi giới hạn. Giờ đây, họ có thể phổ độ tất cả chúng sinh một cách tối đa và thiết thực, nhờ hiểu rõ mỗi một chúng sinh sẽ có được lợi lạc gì từ bất kỳ sự giáo hóa nào, nhưng ngay cả Phật cũng không toàn năng. Phật chỉ có thể tạo ra tác động tích cực đối với những người cởi mở, chấp nhận lời khuyên của ngài, và những ai theo đúng lời dạy.
Đức Phật nói rằng tất cả chúng sinh đều có thể đạt được điều mà ngài đã thành tựu, tất cả đều có thể thành Phật. Đó là vì chúng ta đều có yếu tố cơ bản để hỗ trợ cho mình. Yếu tố này chính là “Phật tánh”.
Khoa học thần kinh nói về tính mềm dẻo của bộ óc, đó là khả năng thay đổi và phát triển những đường dây thần kinh mới của bộ óc trong suốt đời. Khi một thành phần của bộ óc điều khiển chức năng nào đó, chẳng hạn như sử dụng cánh tay mặt, bị tê liệt thì vật lý trị liệu có thể giúp cho bộ óc phát triển những đường dây thần kinh mới để giúp chúng ta sử dụng tay trái. Các nghiên cứu gần đây đã cho thấy thiền quán, chẳng hạn như về lòng bi, cũng có thể tạo ra đường dây thần kinh mới để đem lại nhiều hạnh phúc và an lạc hơn. Vì tâm thức có thể ảnh hưởng đến sự thay đổi sinh lý như vậy, ta có thể nói về độ mềm dẻo của tâm thức, giống như nói về tính mềm dẻo của bộ óc. Sự kiện tâm thức của mình, và vì vậy tính cách của mình, không mang tính tĩnh tại và cố định, và có thể được kích thích để phát triển đường dây thần kinh mới là yếu tố cơ bản nhất, giúp cho tất cả mọi người có thể trở thành những vị Phật giác ngộ.
Ở mức độ sinh lý, bất cứ khi nào thực hiện, nói hay nghĩ về điều gì xây dựng thì ta sẽ tạo ra và củng cố một đường dây thần kinh tích cực, khiến cho điều này trở nên dễ dàng hơn, vì vậy mà xác suất lập lại hành động đó sẽ cao hơn. Ở mức độ tinh thần, đạo Phật nói rằng tương tự như vậy, ta cũng tạo ra năng lực và tiềm năng tích cực. Càng củng cố mạng lưới của năng lực tích cực như vậy, đặc biệt là thực hiện những điều lợi ích cho người khác, thì nó càng trở nên mạnh mẽ hơn. Năng lực tích cực, khi hướng về khả năng phổ độ tất cả chúng sinh một cách trọn vẹn như một vị Phật, là điều giúp ta đạt được mục tiêu trở thành người hữu ích trên phương diện toàn cầu.
Tương tự như thế, càng chú tâm vào sự vắng bóng của bất cứ điều gì chân thật, tương ứng với sự phóng chiếu giả dối về thực tại, thì ta càng làm cho những đường dây thần kinh ấy yếu đi, trước hết là không còn tin vào những điều vô nghĩa trong tâm trí, và không phóng chiếu chúng nữa. Cuối cùng, tâm ta sẽ không còn những đường dây thần kinh vọng tưởng, cũng chấm dứt phiền não và thói quen hành động bốc đồng dựa vào những đường dây thần kinh này. Thay vì vậy, giờ đây, ta sẽ phát triển những đường dây thần kinh của pháp giới thể tánh trí. Khi những đường dây thần kinh này được gia tăng sức mạnh bằng mục tiêu thành tựu tâm toàn trí của Phật, hiểu biết cách phổ độ mỗi một chúng sinh một cách tốt nhất, thì mạng lưới trí tuệ sẽ giúp ta thành tựu tâm thức của Phật.
Bởi vì ai cũng có thân thể, phương tiện để giao tiếp với người khác, chủ yếu là bằng lời nói, và tâm thức, nên đó là những chất liệu để thành tựu thân, khẩu, ý của Phật. Ba điều này cũng là những yếu tố Phật tánh. Tương tự như vậy, chúng ta đều có các phẩm tính tốt đẹp ở mức độ nào đó, đó là bản năng tự bảo tồn, bảo tồn nòi giống, bản năng làm mẹ và làm cha, v.v..., cũng như khả năng hành động và ảnh hưởng đến người khác. Những điều này cũng là các yếu tố Phật tánh; chúng chính là chất liệu để trưởng dưỡng các phẩm tính thiện hảo như lòng từ và lòng quan tâm vô hạn, cùng những hoạt động giác ngộ của một vị Phật.
Khi quán sát cách tâm vận hành thì ta có thể khám phá ra những yếu tố Phật tánh khác. Tất cả mọi người đều có khả năng thu nhận thông tin, phân loại những pháp có cùng phẩm chất với nhau, phân biệt tính cá thể của các pháp, phản ứng theo nhận thức, và nhận biết sự vật. Đây là những cách mà hoạt động tinh thần của chúng ta bị hạn chế trong hiện tại, nhưng đó cũng là chất liệu để thành tựu tâm Phật, đó là khi nó hoạt động ở tiềm năng cao nhất.
Bởi vì ai cũng có chất liệu để thành Phật, nên chỉ cần có động lực và nỗ lực bền bỉ là sẽ thành tựu giác ngộ. Sự tiến triển không bao giờ là con đường thẳng: có ngày thì khá hơn, có ngày thì tệ hơn; đường đi đến Phật quả thì dài và không dễ dàng, nhưng nếu càng tự nhắc nhở bản thân về những yếu tố Phật tánh thì ta sẽ càng tránh xa sự thối chí hơn. Chỉ cần tâm niệm rằng bản thân mình vốn không có gì sai trái một cách cố hữu. Với động lực thiện hảo đủ mạnh mẽ và tu tập theo những phương pháp thực tiễn, phối hợp lòng bi và trí tuệ một cách thiện xảo, ta.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).NIEM PHAT DUONG KIM LIEN.THICH NU TAM GIAC.AUSTRALIA,SYDNEY.30/10/2017
.

Lời Khuyên Trước Khi Khởi Đầu Trên Đường Tu Phật Pháp.


Đạo Phật dạy những biện pháp phòng ngừa để tránh khó khăn, khi chúng ta phải đối phó với thử thách trong đời sống hàng ngày. Đạo Phật nhìn vào căn nguyên của những khó khăn này từ ý tưởng mê lầm và thái độ thiếu thực tế, là những điều tạo ra rối loạn cảm xúc và hành vi bốc đồng. Nhờ công phu hành thiền để đối trị tập khí suy nghĩ và hành động mê lầm, cũng như dựa vào nguồn cảm hứng từ những con người có lòng từ bi hơn, tích cực hơn mà ta có thể chuyển hóa tâm mìnhh, nhằm cải thiện phẩm chất đời sống hàng ngày.

Pháp là Biện Pháp Ngăn Ngừa

Tôi đã được yêu cầu nói về việc thực hành Pháp trong đời sống hàng ngày. Chúng ta cần biết thế nào là Pháp. Pháp là một từ ngữ tiếng Phạn, có nghĩa đen là “biện pháp ngăn ngừa.” Nó là điều mà ta thực hiện để tránh những rắc rối. Để có hứng thú trong việc thực hành Pháp, ta cần thấy rằng có những vấn đề tồn tại trong cuộc sống. Việc này thật sự đòi hỏi nhiều can đảm. Nhiều người không xem xét bản thân và cuộc đời họ một cách nghiêm túc. Họ làm việc vất vả suốt ngày dài và sau đó vì mệt mỏi, họ phân tâm trong các trò giải trí hay những thứ tương tự vào buổi tối. Họ không thật sự nhìn vào bên trong để xem xét các vấn đề trong cuộc sống. Thậm chí, nếu như có xem xét vấn đề, họ thật sự không muốn thừa nhận rằng cuộc sống này bất toại nguyện, vì điều đó quá đau buồn. Ta cần có can cảm để thật sự kiểm tra chất lượng đời sống của mình, và thừa nhận một cách trung thực, khi nhận ra rằng đời sống này bất toại nguyện.

Hoàn Cảnh Bất Toại Nguyện và Nguyên Nhân

Tất nhiên, có nhiều mức độ bất toại nguyện. Chúng ta có thể nói, “Đôi khi, tâm trạng của tôi không tốt, và đôi khi mọi việc diễn tiến tốt đẹp, nhưng không sao hết. Đời là vậy.” Nếu chúng ta thỏa mãn với điều này thì tốt thôi. Nếu ta hy vọng có thể làm cho sự việc khả quan hơn một chút, điều này sẽ thúc đẩy ta tìm cách thực hiện ước vọng ấy. Để tìm ra phương cách cải thiện chất lượng đời sống, chúng ta cần phải xác định nguồn gốc của các vấn đề của mình. Hầu hết mọi người tìm kiếm nguồn gốc vấn đề của họ ở bên ngoài. “Tôi có khó khăn với anh là tại vì anh! Anh không cư xử theo ý tôi muốn.” Ta có thể đỗ lỗi cho tình hình kinh tế hay chính trị đã gây ra những khó khăn của mình. Theo một số trường phái tâm lý học, ta có thể xem những sự kiện gây tổn thương tâm lý trong thời thơ ấu của mình là nguyên nhân dẫn đến các vấn đề của bản thân. Bắt người khác chịu trách nhiệm về nỗi bất hạnh của mình thì rất dễ dàng. Đổ lỗi cho người khác, cho xã hội hay yếu tố kinh tế thật sự không dẫn tới một giải pháp nào cả. Nếu theo khuôn khổ khái niệm này, ta có thể trở nên khoan dung và điều này có thể mang đến lợi ích, nhưng hầu hết mọi người nhận ra rằng nếu chỉ hành động như thế thì những vấn đề tâm lý và bất hạnh của họ chưa được xoa dịu.
Đạo Phật cho rằng mặc dù người khác, xã hội, v.v... góp phần gây ra vấn đề của chúng ta, các yếu tố này không phải là nguồn gốc sâu xa nhất của vấn đề. Ta cần phải nhìn vào bên trong để tìm ra nguồn gốc sâu xa nhất, tạo ra khó khăn cho mình. Sau cùng, nếu cảm thấy bất hạnh thì đó là phản ứng của ta đối với hoàn cảnh. Con người có phản ứng khác nhau trong cùng một hoàn cảnh. Thậm chí, nếu chỉ xem xét bản thân, ta sẽ thấy rằng phản ứng hàng ngày của ta đối với những khó khăn cũng khác nhau. Nếu nguồn gốc của vấn đề chỉ là ngoại cảnh thì lúc nào ta cũng phải phản ứng như nhau, nhưng không phải vậy. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến cách ta phản ứng, ví dụ như khi đang có một ngày làm việc suôn sẻ, nhưng những điều này chỉ là yếu tố nông cạn. Chúng không có đủ chiều sâu ảnh hưởng.
Nếu chịu quan sát, ta sẽ bắt đầu nhận ra rằng thái độ của mình đối với cuộc đời, đối với bản thân và hoàn cảnh đóng góp rất nhiều vào cảm xúc của ta. Ví dụ như không phải lúc nào ta cũng thấy tủi thân, như khi ta đang có một ngày tốt lành; nhưng khi không có một ngày tốt đẹp, cảm giác tủi thân sẽ quay trở lại. Thái độ căn bản của chúng ta đối với cuộc đời có ảnh hưởng lớn đối với cách ta trải nghiệm cuộc đời. Nếu xem xét vấn đề sâu xa hơn nữa, ta sẽ thấy rằng thái độ của mình dựa trên sự vô minh.

Vô Minh là Nguồn Gốc của Mọi Vấn Đề

Nếu tìm hiểu về vô minh, ta sẽ thấy rằng một khía cạnh của nó chính là sự lầm lạc về hành vi nhân quả. Chúng ta không biết nên làm gì hay nói gì, và hệ quả gì sẽ xảy ra. Ta có thể rất bối rối về việc sẽ chọn công việc nào, có lập gia đình hay không, nên sinh con hay không, v.v… Nếu ta kết hôn với một người nào đó, kết quả sẽ như thế nào? Chúng ta không biết. Ý tưởng về kết quả của sự lựa chọn của mình thật ra chỉ là sự tưởng tượng. Ta có thể nghĩ rằng nếu ta có quan hệ sâu đậm với một người nào đó, ta sẽ sống hạnh phúc mãi mãi về sau, như một chuyện thần tiên. Nếu cảm thấy khó chịu trong một tình huống, ta nghĩ rằng nếu mình la hét thì sẽ giúp cho tình hình khả quan hơn. Ta có một ý tưởng rất lầm lạc về cách người kia sẽ phản ứng đối với hành động của mình. Ta nghĩ rằng nếu ta la hét và nói lên những cảm nghĩ của mình, ta sẽ cảm thấy dễ chịu hơn và mọi chuyển sẽ ổn thỏa, nhưng mọi chuyện sẽ không ổn thỏa. Ta muốn biết điều gì sẽ xảy đến. Trong tuyệt vọng, ta đi xem chiêm tinh hay gieo quẻ theo Quyển Sách về Những Sự Thay Đổi (The Book of Changes), hay I Ching. Tại sao ta lại làm như vậy? Bởi vì ta muốn kiểm soát những gì sẽ xảy ra.
Đạo Phật nói rằng mức độ sâu hơn của vô minh là sự lầm lạc về cách ta và người khác tồn tại ra sao, thế giới tồn tại như thế nào. Chúng ta hoàn toàn lầm lạc về vấn đề kiểm soát sự việc. Ta nghĩ rằng mình có thể hoàn toàn kiểm soát những gì xảy ra với mình. Chính vì vậy mà ta thất vọng. Ta không thể luôn luôn kiểm soát được tình hình. Điều đó không thực tế. Thực tế rất phức tạp. Có nhiều yếu tố quyết định điều gì sẽ xảy ra, không chỉ riêng hành động của ta. Điều này không có nghĩa là ta hoàn toàn mất kiểm soát hay bị thế lực bên ngoài chi phối. Chúng ta có góp phần quyết định việc gì sẽ xảy đến, nhưng ta không phải là yếu tố duy nhất quyết định điều gì sẽ diễn ra.
Vì vô minh và bất an, chúng ta thường hành động một cách tiêu cực mà thậm chí không biết rằng đó là hành vi tiêu cực. Đó là vì ảnh hưởng của những cảm xúc, thái độ phiền não và xung động thôi thúc, xuất phát từ thói quen của mình. Ta không chỉ có hành động tiêu cực đối với người khác, mà còn cho bản thân mình. Nói cách khác, ta tự tạo thêm nhiều vấn đề cho bản thân mình. Nếu muốn giảm thiểu vấn đề, hay thoát khỏi rắc rối, hoặc xa hơn nữa là có khả năng giúp người khác giải quyết vấn đề của họ, ta cần phải thừa nhận nguồn gốc của những giới hạn của mình.

Thoát Khỏi Vô Minh

Giả sử ta có thể nhận diện được nguồn gốc vấn đề của mình là vô minh. Việc này không quá khó. Nhiều người tới mức phải thốt lên, “Tôi thật sự rất bối rối. Tôi cảm thấy quá rối rắm.” Rồi gì nữa? Trước khi tham gia và trả tiền cho khóa học này hay khóa tu nọ, ta nên xem xét một cách rất nghiêm túc rằng ta đã thật sự tin chắc là mình có thể thoát khỏi vô minh hay không. Nếu như ta không nghĩ điều này khả dĩ, thì cố gắng làm gì? Nếu ta chỉ tham gia khóa tu học với hy vọng may ra có thể thoát khỏi vô minh thì ý tưởng này không thật bền vững. Đó là sự mơ tưởng.
Ta có thể nghĩ rằng mình sẽ có tự do bằng vài cách. Ta có thể nghĩ rằng ai đó sẽ cứu độ ta. Đó có thể là một nhân vật siêu phàm, cao cả hơn ta, như Thượng Đế chẳng hạn, nhờ vậy mà ta có được đức tin một lần nữa. Theo cách khác, ta có thể trông chờ một vị thầy tâm linh, một người bạn đời hay người nào khác giúp ta thoát khỏi vô minh. Ta rất dễ phụ thuộc vào người khác và hành động thiếu chín chắn trong những tình huống này. Ta thường quá tuyệt vọng, mong tìm ra một ai đó có thể cứu độ mình, đến nỗi ta nương tựa vào người khác mà không có sự chọn lựa chín chắn. Ta có thể chọn phải một người mà bản thân họ chưa thoát khỏi vô minh, hoặc một người nào đó, vì cảm xúc và thái độ phiền não của riêng mình mà lợi dụng lòng tin ngây thơ của ta. Đây không phải là cách hành xử ổn thỏa. Ta không thể mong đợi một vị thầy tâm linh hay một mối quan hệ nào giúp ta xóa sạch tất cả vô minh. Ta phải tự xóa sạch vô minh của mình.
Mối quan hệ với một vị thầy tâm linh hay người bạn đời có thể mang đến hoàn cảnh thuận lợi, chỉ khi nào đó là một mối quan hệ lành mạnh. Nếu nó không lành mạnh, tình hình sẽ trở nên tồi tệ hơn. Nó sẽ dẫn tới nhiều sự mê mờ hơn nữa. Ban đầu, ta có thể chìm sâu trong tâm trạng phủ nhận, cho rằng vị thầy là hoàn hảo, người bạn đời là hoàn hảo, nhưng cuối cùng, sự ngây thơ của ta tan biến đi. Khi bắt đầu nhìn thấy khuyết điểm của người kia và nhận ra rằng họ không thể cứu vớt ta ra khỏi mọi sự vô minh của mình, ta sẽ bị suy sụp tinh thần. Ta sẽ cảm thấy mình bị lừa dối. Đức tin và lòng tín nhiệm của ta đã bị lừa gạt. Đó là một cảm giác khủng khiếp! Điều rất quan trọng là nên cố tránh tình huống này ngay từ ban đầu. Ta cần phải thực hành Pháp, đó là biện pháp phòng ngừa. Ta cần thấu hiểu điều gì khả dĩ và điều gì bất khả dĩ. Một vị thầy tâm linh có thể làm gì và không thể làm gì? Chúng ta sẽ áp dụng những biện pháp ngăn ngừa để tránh sự suy sụp tinh thần.
Ta cần phải phát triển một tâm thái vắng bóng vô minh. Sự thông hiểu, yếu tố đối lập với vô minh, sẽ ngăn chận, không cho vô minh phát khởi. Công việc của chúng ta trong khi thực hành Pháp là quán sát nội tâm và chú tâm vào thái độ của mình, vào những phiền não, hành vi bốc đồng, thúc bách hay loạn trí. Điều này có nghĩa là sẵn sàng nhìn nhận những điều không thật tốt đẹp trong bản thân mình, thay vì phủ nhận chúng. Khi nhận ra những điều gây rắc rối cho mình, hoặc những gì là dấu hiệu của rắc rối, ta nên áp dụng các biện pháp đối trị để khắc phục chúng. Tất cả những điều này dựa trên việc tu học và hành thiền. Ta phải học cách nhận diện những cảm xúc, thái độ phiền não và nguồn gốc của chúng.

Thiền

Thiền có nghĩa là tập áp dụng các biện pháp đối trị khác nhau trong một bối cảnh có sự kiểm soát, để ta quen dần với cách áp dụng chúng, và sau đó, thực hiện chúng trong đời sống thật. Ví dụ, nếu ta nổi giận với người khác khi họ không hành động như ta muốn, trong khi hành thiền, ta sẽ nghĩ về tình huống này và cố xem xét chúng dưới nhiều góc độ khác nhau. Người kia hành động trái ý ta bởi nhiều lý do. Chỉ vì họ không thương yêu ta, không nhất thiết là họ đã hành động bằng lòng thù hận. Trong thời thiền, ta cố làm tan rã thái độ này: “Bạn tôi không thương tôi nữa, vì hắn không gọi điện thoại cho tôi.”
Nếu ta có thể tập trải qua tình huống này với một tâm trạng thư giãn hơn, hiểu biết và kiên nhẫn hơn, rồi nếu người bạn không gọi điện thoại trong suốt một tuần thì ta cũng không quá buồn. Khi bắt đầu thấy buồn, ta sẽ nhớ rằng người bạn này có lẽ rất bận rộn và nếu ta cho rằng mình là người quan trọng nhất trong đời họ thì thật là ích kỷ. Điều này sẽ giúp ta nguôi ngoai nỗi buồn phiền.

Pháp Là một Công Việc Toàn Thời

Thực hành Pháp không phải là một sở thích. Đó không phải là điều chúng ta làm như một môn thể thao hay để thư giãn. Ta sẽ không đến trung tâm Phật giáo chỉ để làm thành viên của một nhóm nào đó, hay để có được không khí xã hội. Có lẽ nếu ta đến đó thì tốt lắm, nhưng đó không phải là mục đích của mình. Hơn nữa, ta không đến trung tâm Phật giáo theo kiểu một người nghiện đi tìm sự thỏa mãn – thỏa mãn về cảm hứng từ một vị thầy lôi cuốn và thú vị, khiến ta cảm thấy thoải mái. Nếu làm như vậy, ta sẽ mau chóng cảm thấy chán chường khi về nhà, rồi ta lại cần một sự thỏa mãn khác. Pháp không phải là thuốc phiện. Vị thầy không phải thuốc phiện. Thực hành Pháp là một công việc toàn thời. Ta đang nói về vấn đề chuyển hóa thái độ của mình đối với mọi việc trong cuộc sống. Ví dụ, nếu đang thực hành việc phát triển tình thương đối với tất cả chúng sinh hữu tình, ta cần phải ứng dụng nó trong gia đình mình. Nhiều người ngồi trong phòng để thiền quán về tình thương, nhưng lại không thể hòa hợp với cha mẹ hay người bạn đời của họ. Điều này thật đáng buồn.

Tránh Các Cực Đoan

Ta cần phải tránh những cực đoan trong khi cố áp dụng Pháp vào những hoàn cảnh thực tế ở nhà hay công sở. Một cực đoan là đổ lỗi hoàn toàn cho người khác, còn cực đoan kia là trút mọi tội lỗi lên bản thân mình. Những gì xảy ra trong cuộc sống rất phức tạp. Cả hai bên đều góp phần trong đó: những người khác đóng góp một phần; chúng ta cũng vậy. Ta có thể cố gắng khiến người khác thay đổi hành vi và thái độ của họ, nhưng tôi chắc rằng với kinh nghiệm bản thân, chúng ta đều biết điều này không mấy dễ dàng – nhất là nếu ta nhập cuộc bằng cách cho là mình đúng, mình thánh thiện và buộc tội cho người khác. Thay đổi bản thân mình thì dễ dàng hơn nhiều. Mặc dù ta có thể khuyên răn người khác nếu họ chấp nhận và không trở nên hung hăng hơn khi nghe lời khuyên của ta, công việc chính vẫn là nơi bản thân mình.
Trong khi làm việc với bản thân, ta phải quan sát một cặp cực đoan khác nữa: đó là hoàn toàn bận tâm với cảm xúc của mình và không nhận thức được chúng. Cực đoan đầu tiên là thái độ ngã ái. Ta chỉ quan tâm đến cảm xúc của bản thân và có khuynh hướng thờ ơ với cảm xúc của người khác. Ta có khuynh hướng nghĩ rằng cảm xúc của mình quan trọng hơn nhiều, so với cảm xúc của người khác. Mặt khác, ta có thể hoàn toàn không nhận thức được cảm xúc của mình, hoặc hoàn toàn không cảm nhận được gì, như thể cảm xúc của ta đã bị tê liệt vì thuốc gây tê. Việc lánh xa những cực đoan này đòi hỏi sự quân bình khéo léo. Điều này không mấy dễ dàng.
Nếu ta luôn quan sát bản thân mình, điều đó tạo ra một ảo tưởng nhị nguyên – bản thân ta và những gì ta đang hành động hay cảm nhận – do đó, ta không thật sự liên hệ với một người nào, hay hiện diện với một ai. Nghệ thuật thật sự là ở chỗ hành động và liên hệ với người khác một cách tự nhiên, chân thật, trong khi một phần tâm ý của ta hướng vào động cơ của mình, v.v... Tuy nhiên, ta nên cố gắng làm việc này mà không hành động một cách đứt đoạn vì không hiện diện với người kia. Tôi cũng nên nêu ra rằng khi chúng ta xem xét động cơ và cảm xúc của mình trong quá trình liên hệ với người khác, đôi khi chia sẻ với người kia cũng có ích. Tuy nhiên, nếu như ta nghĩ rằng mình phải nói ra thì quá ích kỷ. Thường thì người khác không để tâm đến cảm xúc của ta. Nếu cho rằng họ muốn biết cảm xúc của ta ra sao thì đó là việc quan trọng hóa bản thân mình. Khi nhận ra mình bắt đầu hành động một cách ích kỷ, ta chỉ việc dừng lại mà không cần phải nói ra.
Một cặp cực đoan khác là cho rằng mình hoàn toàn xấu hoặc hoàn toàn tốt. Nếu quá chú tâm vào những khó khăn, vấn đề và phiền não của mình, ta có thể bắt đầu cảm thấy rằng mình là một người xấu. Điều này rất dễ thoái hóa thành mặc cảm tội lỗi. “Tôi nên thực hành Pháp. Nếu không, tôi sẽ là một người xấu.” Trên cơ bản, đây là cách tu tập rất điên rồ.
Ta cũng cần tránh cực đoan kia, tức là quá chú trọng vào mặt tích cực. “Chúng ta đều hoàn hảo. Chỉ cần thấy Phật tánh của bạn thôi. Mọi sự thật tuyệt vời.” Điều này rất nguy hiểm, vì nó ngụ ý rằng ta chẳng cần buông bỏ điều gì cả, ta không cần phải chấm dứt bất cứ sự tiêu cực nào, bởi vì tất cả những gì ta cần phải làm là thấy được Phật tánh của mình. “Tôi thật tuyệt vời. Tôi hoàn hảo. Tôi không cần chấm dứt hành vi tiêu cực của mình.” Chúng ta cần có một sự quân bình. Nếu cảm thấy mình quá thấp kém, nên nhắc nhở bản thân về Phật tánh của mình. Nếu cảm thấy hơi lãnh đạm, nên chú tâm vào mặt tiêu cực của mình.

Nhận Lãnh Trách Nhiệm

Về cơ bản, đối với việc phát triển bản thân và loại bỏ vấn đề, ta phải chịu trách nhiệm với bản thân mình. Tất nhiên, ta cần có sự hỗ trợ. Không dễ gì tự mình thực hiện việc này. Ta có thể nhận sự giúp đỡ từ những vị thầy tâm linh hay tăng thân của mình, đó là những người có cùng chí hướng, đang cải thiện bản thân và không đổ lỗi cho kẻ khác về những vấn đề của họ. Đó là lý do vì sao trong một mối quan hệ, điều quan trọng là có cùng chung một thái độ, cụ thể là không đổ lỗi cho người kia về bất cứ vấn đề nào có thể xảy ra. Nếu cả hai người đều đổ lỗi cho nhau thì sẽ không xong. Nếu chỉ có một người tự cải thiện bản thân, còn người kia chỉ đổ lỗi cho đối phương thì cũng không được. Nếu ở trong một mối quan hệ mà người kia luôn buộc tội ta, trong khi ta đang tìm hiểu xem mình đã đóng góp những gì trong vấn đề này, không có nghĩa là hai người phải chia tay, nhưng trường hợp này khó khăn hơn. Ta phải tránh tình trạng làm người chịu sự hành hạ trong mối quan hệ này. “Tôi đang chịu đựng tất cả những việc này. Thật là khó khăn.” Mọi việc có thể rất căng thẳng.

Đón Nhận Nguồn Cảm Hứng

Đôi khi, hình thức hỗ trợ mà ta có thể nhận được từ vị thầy tâm linh, từ tăng thân hay bạn bè được gọi là “nguồn cảm hứng.” Giáo lý của Đức Phật đặt nặng trọng tâm vào việc đón nhận nguồn cảm hứng từ Tam Bảo, từ đạo sư, v.v… Từ ngữ Tây Tạng là "jinlab” (byin-rlabs), thường được dịch là “lực gia trì,” vốn là một cách phiên dịch không phù hợp. Chúng ta cần có nguồn cảm hứng. Chúng ta cần một loại sức mạnh nào đó để tiếp tục tu hành.
Đường tu theo Phật pháp không phải là một con đường dễ dàng. Nó đương đầu với những điều tệ hại của cuộc sống. Chúng ta cần một nguồn cảm hứng vững chắc. Nếu nguồn cảm hứng của ta là những câu chuyện huyền hoặc về phép mầu và những điều đại loại mà vị thầy kể về bản thân họ hay các nhân vật khác trong lịch sử Phật giáo, đó không phải là một nguồn cảm hứng thật bền vững. Chắc chắn chúng rất thú vị, nhưng ta phải xem xét chúng ảnh hưởng ta như thế nào. Đối với nhiều người, chúng củng cố một thế giới tưởng tượng, trong đó ta mong ước sự cứu rỗi của phép mầu. Ta tưởng tượng rằng một vị ảo thuật gia lỗi lạc sẽ cứu giúp ta bằng quyền năng kỳ diệu của vị ấy, hoặc bỗng nhiên ta có thể tự mình phát triển những điều kỳ diệu này. Ta phải vô cùng thận trọng đối với những câu chuyện huyền hoặc này. Chúng có thể truyền cảm hứng cho niềm tin của ta, v.v..., và điều này có thể hữu ích, nhưng nó không phải là nền tảng vững chắc của nguồn cảm hứng. Chúng ta cần có một nền tảng vững bền.
Một ví dụ hoàn hảo là trường hợp của Đức Phật. Đức Thế Tôn đã không cố “truyền cảm hứng” hay gây ấn tượng với người khác bằng những câu chuyện huyền hoặc. Ngài đã không ra vẻ là một bậc thầy bằng cách đi khắp nơi ban lực gia trì cho mọi người, hay làm những chuyện tương tự. Điểm tương đồng mà Đức Phật đã sử dụng, được lặp đi lặp lại trong toàn bộ giáo lý nhà Phật, là một vị Phật giống như mặt trời. Mặt trời không cố gắng sưởi ấm con người. Do bản chất tự nhiên của mặt trời, nó tự động mang đến hơi ấm cho mọi người. Mặc dù ta có thể thấy lâng lâng khi nghe một câu chuyện kỳ bí, được chạm đầu vào một tượng Phật, hay có một sợi dây đỏ để đeo quanh cổ, nhưng chúng không vững chắc. Nguồn cảm hứng vững chắc là cách một vị thầy thể hiện những phẩm chất tự phát và tự nhiên của một con người, cá tính của họ, cách vị ấy thể hiện bản thân từ kết quả của việc thực hành Pháp. Đây mới chính là nguồn cảm hứng, chứ không phải những hành động mà người ta tạo ra để chúng ta giải trí. Mặc dù điều này có thể không thú vị bằng những mẫu chuyện huyền hoặc, nó sẽ mang đến cho ta một nguồn cảm hứng bền vững.
Khi có tiến bộ trong việc tu tập, ta có thể nhận được nguồn cảm hứng từ chính sự tiến bộ của mình, không phải từ những quyền năng kỳ diệu, mà là từ sự thay đổi chậm rãi trong tâm tính. Giáo pháp luôn nhấn mạnh việc tùy hỷ đối với những thiện hạnh của mình. Điều vô cùng quan trọng mà ta nên nhớ là sự tiến bộ trong việc tu tập không bao giờ là một đường thẳng tiến. Nó không đơn thuần tiến triển tốt hơn mỗi ngày. Một trong những tính chất của luân hồi là tâm trạng của ta liên tục thay đổi lên xuống, cho đến khi ta hoàn toàn giải thoát khỏi luân hồi, và đó là một trạng huống tiến bộ vượt bực. Ta phải tiên liệu rằng sẽ có những lúc ta cảm thấy hạnh phúc, đôi khi thì bất hạnh. Đôi khi, ta có thể hành động một cách tích cực, và khi khác thì những thói quen điên rồ lại chiếm ưu thế. Sự việc sẽ lên xuống như thế. Thường thì phép lạ không xảy ra.
Giáo lý về việc lánh xa bát phong nhấn mạnh việc không tự mãn khi mọi việc diễn ra tốt đẹp, và không chán chường khi chúng không tiến triển thuận lợi. Cuộc sống là vậy. Ta cần phải nhìn vào những hiệu ứng lâu dài, chứ không phải những hiệu ứng nhất thời. Ví dụ, nếu đã tu tập được 5 năm thì so với 5 năm về trước, ta có rất nhiều tiến bộ. Mặc dù đôi khi bị rối trí, nếu ta nhận ra rằng mình có thể giải quyết tình huống bằng lý trí và tình cảm một cách bình tĩnh hơn, sáng suốt hơn, điều này cho thấy ta đã có tiến bộ. Đây chính là nguồn cảm hứng. Nó không có chất kịch tính, mặc dù ta muốn nó như vậy và cảm thấy lâng lâng đối với những vở tuồng đầy kịch tính. Đó là nguồn cảm hứng vững chắc.

Hãy Thực Tế

Chúng ta cần phải khá thực tế và thiết thực. Khi tu tập pháp tịnh hóa như Kim Cương Tát Đỏa, điều quan trọng là không nghĩ rằng vị Thánh Kim Cương Tát Đỏa đang tịnh hóa ta. Đó không phải là nhân vật bên ngoài nào, một vị thánh vĩ đại sẽ cứu rỗi và ban lực gia trì cho chúng ta bằng sự tịnh hóa. Nó hoàn toàn không phải là tiến trình như vậy. Kim Cương Tát Đỏa biểu hiện cho tánh thanh tịnh tự nhiên của tâm quang minh, vốn không bị cấu nhiễm vì vô minh. Vô minh có thể được loại trừ. Điều này được thực hiện bằng cách nhận diện tánh thanh tịnh tự nhiên của tâm bằng sự nỗ lực, khi biết rằng ta có thể buông bỏ mặc cảm tội lỗi, những tiềm năng tiêu cực và v.v… Điều này cho phép tiến trình tịnh hóa làm việc.
Hơn nữa, trong khi thực hành tất cả những pháp tu này và cố gắng đưa Phật pháp vào đời sống hàng ngày, ta cần nhận rõ và thừa nhận trình độ hiện tại của mình. Điều cốt yếu là không được khoe khoang hay cho rằng lẽ ra mình phải ở một trình độ cao hơn mức hiện tại.

Tiếp Cận Giáo Pháp từ Bối Cảnh Công Giáo

Hầu hết chúng ta ở đây đều xuất xứ từ bối cảnh Công giáo. Khi tiếp cận với Phật pháp và bắt đầu học hỏi, chúng ta không cần phải nghĩ rằng mình phải từ bỏ Công giáo để theo Phật giáo. Tuy nhiên, điều quan trọng là không trộn lẫn hai lối thực hành này. Chúng ta không đảnh lễ ba lần tại bàn thờ trước khi an tọa trong nhà thờ. Tương tự như thế, khi thực hành Phật pháp, ta không quán tưởng Đức Mẹ Đồng Trinh Maria (Virgin Maria), mà sẽ quán tưởng các Bổn Tôn (yidam). Chúng ta sẽ thực hành mỗi tôn giáo một cách riêng biệt. Khi đến nhà thờ, ta chỉ đến nhà thờ; khi hành thiền Phật giáo, chúng ta chỉ hành thiền Phật giáo. Có rất nhiều điểm tương đồng, như việc nhấn mạnh vào lòng yêu thương, giúp đỡ người khác, v.v… Ở mức độ cơ bản, không hề có sự mâu thuẫn. Nếu ta thực hành lòng yêu thương, làm việc thiện nguyện, giúp đỡ người khác, chúng ta đều là những tín đồ Công giáo và Phật tử tốt. Tuy nhiên, cuối cùng, ta sẽ phải chọn lựa, nhưng điều này chỉ cần thiết khi ta đã sẵn sàng đặt toàn bộ nỗ lực vào sự tiến triển tâm linh lớn lao. Nếu muốn đi lên tầng cao nhất của một tòa nhà, ta không thể đi trên hai cầu thang cùng một lúc. Tôi nghĩ rằng đây là một ẩn dụ rất có ích. Nếu chỉ tu tập ở trình độ căn bản, ở hành lang thì được. Ta sẽ không phải lo lắng về điều này. Ta có thể được lợi lạc từ cả hai tôn giáo.

Tránh Việc Đặt Lòng Trung Thành Sai Chỗ

Khi áp dụng Pháp vào đời sống, ta phải cẩn thận, tránh việc từ bỏ tôn giáo bản địa của mình, xem nó là xấu xa hay thấp kém. Đó là một sai lầm lớn. Thế rồi ta có thể trở thành một Phật tử cuồng tín và người chống đạo Công giáo cuồng tín chẳng hạn. Người ta cũng hành động như vậy đối với chủ nghĩa cộng sản và chế độ dân chủ. Một cơ chế tâm lý được xem là lòng trung thành đặt không đúng chỗ sẽ chiếm vị trí. Đây là khuynh hướng trung thành với gia đình mình, với bối cảnh của mình, v.v…, nên ta muốn trung thành với Công giáo, dù đã từ bỏ nó. Nếu không trung thành với bối cảnh của mình và hoàn toàn chối bỏ nó như một điều xấu xa, ta sẽ cảm thấy mình rất tệ bạc. Bởi vì điều này vô cùng khó chịu, trong vô thức, ta cảm thấy cần phải tìm kiếm và trung thành với một điều gì đó trong bối cảnh của mình.
Khuynh hướng trong vô thức là trung thành với một khía cạnh ít lợi lạc nào đó trong bối cảnh của mình. Ví dụ, ta có thể từ bỏ Công giáo, nhưng lại mang theo nỗi sợ hãi mạnh mẽ đối với địa ngục khi đến với Phật giáo. Một người bạn của tôi đã từng là một tín đồ Công giáo rất thuần thành, sau đó, cô theo Phật giáo một cách mạnh mẽ, rồi bị khủng hoảng về vấn đề hiện sinh. “Tôi đã bỏ đạo Công giáo, nên sẽ rơi vào địa ngục của Công giáo; nhưng nếu tôi bỏ Phật giáo và trở lại với Công giáo, tôi sẽ rơi vào địa ngục của Phật giáo!” Mặc dù điều này nghe có vẻ khôi hài, nó thật sự là một vấn đề nghiêm trọng đối với cô ấy.
Trong vô thức, chúng ta thường mang theo một số quan điểm nhất định từ Công giáo sang Phật giáo. Các quan điểm thông thường nhất là mặc cảm tội lỗi, tìm kiếm phép mầu và mong ai đó cứu rỗi mình. Nếu không tu tập thì ta cảm thấy rằng mình nên tu tập, nếu không thì sẽ cảm thấy tội lỗi. Những quan điểm này chẳng có ích lợi gì. Ta cần phải nhận ra điều này khi suy nghĩ như vậy. Ta cần phải xem xét bối cảnh của mình và thừa nhận những khía cạnh tích cực để trung thành với những mặt tích cực, thay vì tiêu cực. Thay vì nghĩ rằng “Tôi đã thừa hưởng mặc cảm tội lỗi và sự tìm kiếm phép mầu,” ta có thể nghĩ rằng “Tôi đã thừa hưởng lòng thương yêu, bác ái và giúp đỡ những người bất hạnh của truyền thống Công giáo.”
Chúng ta có thể làm như vậy đối với gia đình mình. Ta có thể chối bỏ họ và trung thành với những tập tục tiêu cực của họ trong vô thức, thay vì có ý thức trung thành với những điều tích cực. Ví dụ, nếu như thừa nhận rằng ta rất biết ơn bối cảnh Công giáo mà mình đã có được, ta có thể đi trên con đường riêng của mình mà không hề có sự mâu thuẫn với quá khứ, cũng như không để cho cảm xúc tiêu cực liên tục gây tổn hại cho tiến bộ tâm linh.
Điều quan trọng là cố gắng thấu hiểu giá trị tâm lý của điều này. Nếu ta nghĩ quá khứ của mình, trong đó có gia đình, tôn giáo của mình từ khi chào đời, hay bất cứ điều gì, là tiêu cực, ta sẽ có khuynh hướng có thái độ tiêu cực đối với bản thân mình. Mặt khác, nếu có thể thừa nhận những điểm tích cực trong bối cảnh và quá khứ của mình, ta sẽ có khuynh hướng có thái độ tích cực về bản thân. Điều đó giúp ta trở nên vững vàng hơn rất nhiều trên con đường tâm linh.

Nhận Xét Sau Cùng

Ta cần phải tiến bước một cách chậm rãi, đi từng bước một trong việc tu tập. Khi lắng nghe các giáo lý rất cao cấp, khi dự lễ quán đảnh Mật điển, v.v…, mặc dù những đạo sư vĩ đại trong quá khứ có nói rằng, “Khi vừa lắng nghe một giáo lý, hãy thực hành nó ngay lập tức,” chúng ta cần xem xét giáo lý đó có quá cao cấp đối với trình độ của mình hay không, hay đó là điều mà ta có thể thực hành ngay lập tức. Nếu đó là giáo lý quá cao cấp, ta cần phải nhận thức rõ những bước cần thiết để chuẩn bị bản thân khi thực hành nó, rồi làm theo những bước ấy. Nói tóm lại, như một vị thầy của tôi, Geshe Ngawang Dhargyey, đã từng dạy, “Nếu ta thực hành những phương pháp ảo tưởng, ta sẽ có những kết quả ảo tưởng; nếu ta thực hành những phương pháp thực tiễn, ta sẽ gặt hái được những thành quả thực tiễn.”HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.30/10/2017.