Monday, 25 September 2017

7Tha thứ và bỏ qua không phải là chuyện dễ làm, tuy nhiên nếu biết được những lợi ích từ việc bao dung, bạn có thể nghĩ lại.
Tha thứ để trường thọ
Tha thứ để trường thọ

Tăng tuổi thọ

Những người luôn giữ mối hận thù dường như luôn lo lắng và ở trong tâm trạng xấu. Giữ mối oán hận có thể khiến chất lượng cuộc sống giảm sút, tuổi thọ cũng rút ngắn lại. Kết quả một số nghiên cứu cho thấy những người luôn biết tha thứ có xu hướng sống lâu hơn những người ích kỷ, hẹp hòi.

Tha thứ làm giảm stress

Nuôi dưỡng lòng hận thù có thể gây ra những căng thẳng giống như khi cơ thể bị áp lực tâm lý nặng nề: cơ căng lên, huyết áp tăng, tăng tiết mồ hôi.

Hạnh phúc hơn

Bằng việc tha thứ cho người khác, bạn đã buộc bản thân mình – chứ không phải cái người gây tổn tương cho bạn – chịu trách nhiệm về hạnh phúc của mình. Một cuộc điều tra cho thấy những người nói chuyện về sự tha thứ trong quá trình trị liệu tâm lý đã cải thiện sức khoẻ tốt hơn nhiều so với nhóm không thảo luận về chủ đề này

Giảm căng thẳng

Khi giữ mối hận thù sâu trong lòng, bạn sẽ không ngừng suy nghĩ về người đã gây ra sự giận dữ hay đau đớn cho bạn. Đây chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến căng thẳng. Mối ác cảm ấy liên tục đeo bám, bạn sẽ không thể tập trung vào những thứ khác, chẳng hạn như công việc, gia đình, hạnh phúc, sở thích…
Con người phải có cảm xúc, nhưng nếu không biết rũ bỏ hay chọn cách tha thứ, bạn sẽ mãi đắm chìm vào trạng thái tiêu cực. Do đó, theo các chuyên gia tâm lý, giữ lòng thù hận là một cảm giác rất mạnh mẽ cần phải được loại bỏ để ngăn chặn mức độ căng thẳng gia tăng.

Giảm đau

Nghe có vẻ phi lý, nhưng theo một nghiên cứu gần đây được thực hiện tại Trung tâm Y khoa Đại học Duke (Mỹ), một trái tim giàu lòng vị tha có thể làm giảm cả nỗi đau thể xác và tinh thần, bởi khi tha thứ, bạn sẽ cảm thấy được thoải mái hơn so với việc lấp đầy sự oán giận trong lòng.

Giúp tim khỏe

Trong một nghiên cứu gần đây được tiến hành tại Mỹ với số lượng lớn người tham gia đã cho thấy những người giữ mối hận thù trong lòng có nhịp tim cao hơn những người có tấm lòng bao dung và biết học cách tha thứ.

Giảm huyết áp

Theo Eblogfa, một nghiên cứu gần đây cho biết sự tha thứ có liên quan đến huyết áp thấp. Những người bị huyết áp cao là do thường gặp nhiều tình huống căng thẳng trong cuộc sống, có thể được gây ra bởi một số thứ, bao gồm cả việc không thể tha thứ.
Nghiên cứu khác được đăng trên Tạp chí “Personality and Social Psychology Bulletin” cho thấy rằng sự tha thứ đã giúp cho người bị lỗi biết suy nghĩ lại, biết những thái độ và hành vi chưa đúng của chính bản thân. Điều đó có nghĩa sự tha thứ đã cải thiện mối quan hệ theo chiều hướng “tích cực”, giup tăng cường các mối quan hệ, giúp thoát khỏi các trạng thái tinh thần và cảm xúc tiêu cực như tức giận, thất vọng, thù hằn…Như Thomas Fuller đã từng nói: “Kẻ không thể tha thứ cho người khác đã làm gẫy cây cầu mà chính mình phải bước qua bởi con người ai cũng cần tới sự tha thứ”.
Tóm lại khi chúng ta có sự tha thứ cho nhau có nghĩa là đã giải phóng cho chính mình khỏi những đau khổ, những oán giận đôi khi đeo đẳng trong tâm hồn. Tha thứ cho người chính là tha thứ cho mình và hoàn thiện chính mình. Tha thứ là liều thuốc bổ cho sức khỏe, cho tâm trí, cho các mối quan hệ!
Theo lời Phật dạy, tha thứ được coi là một bài thực tập nhằm ngăn ngừa những ý niệm có hại cho bản thân mình. Đạo Phật chỉ rõ rằng những suy nghĩ tiêu cực như: thù ghét, giận dữ có ảnh hưởng lớn và lâu dài đến nghiệp ý (trong thân – khẩu – ý). Do vậy, mỗi người đều cần tu dưỡng, nuôi dưỡng những ý niệm tốt đẹp, từ bi.HET=NAM MO A DI DA PHAT.( 3 LAN ).NIEM PHAT DUONG KIM LIEN.THICH NU TAM GIAC.AUSTRALIA,SYDNEY.25/9/2017.
Khiêm tốn, một đức tính cần đối với bất cứ ai. Trong cuộc sống, càng khoe khoang cái gì thì rất dễ thất bại cái đóCon người không hề biết khi bản thân khoe khoang là đang tự hạ thấp giá trị chính mình.Chắc chắn rằng nếu ta thích khoe về cái gì thì sẽ thất bại về cái đó, vì thế là người có năng lực không nhất thiết phải nói ra mà hãy để người khác tự đánh giá đúng về thực lực của mình.

Bạn càng hãnh diện về cái gì, thì lại càng dễ mất đi cái đó

Việc khoe khoang kỳ thực chẳng mang lại lợi ích gì, vì càng khoe nhiều, bạn càng nhận được cái nhìn thiếu thiện cảm từ những người xung quanh. Thậm chí còn làm mất đi chính phúc báo của mình. Khoe khoang vẻ đẹp bề ngoài, thì phải cẩn thận kẻo sau này chính bạn lại trở thành một người xấu xí. Hay khoe về sự giàu có, thì phải cẩn thận sau này sẽ bị phá sản, cũng như về thành tích học tập tốt thì có thể sau này thi không đỗ. Tốt nhất là bạn không nên tự hào khoe khoang con cái trong nhà thế nào. Bạn phải giúp con mình có ít kẻ thù như vậysẽ  khiến cho người đời cũng như quỷ thần không ganh tỵ với chúng, mà ngược lại khiến họ bảo vệ và ủng hộ nó mới phải.

Họa phúc của một người còn phải xem người đó khiêm tốn hay kiêu ngạo

Con người thường tự hủy hoại đi công đức của mình do quá hãnh diện về công đức của mình hoặc về việc tu hành cũng như khoe khoang bản thân được hưởng số may mắn. Kiêu ngạo làm hỏng con người và sẽ bị thiên hạ coi khinh. Con người, không nên tùy tiện nói ra những việc chưa hoàn thành và các kế hoạch của tương lai. Nhân quả, nói ra rồi sẽ thay đổi. Có thể ví như ân oán trong nhân gian, nói thẳng ra thì nhân quả thì có lúc sẽ khiến nặng thêm hoặc là gặp phải báo ứng. Vẫn chưa làm xong xuôi, mà nói trắng ra là một điều kiêng kỵ.

Hãy biết lắng nghe nhiều hơn

Mỗi người đều có hai con mắt song song với nhau, cho nên nhất định phải nhìn người khác với ánh mắt bình đẳng. Cũng như có hai lỗ tai, ở hai phía trái và phải cho nên không thể thiên lệch, chỉ nghe một phía. Con người  tuy rằng chỉ có một trái tim nhưng lại được chia làm hai ngăn, cho nên làm bất cứ việc gì cũng đừng chỉ nghĩ đến mình, mà phải suy nghĩ cho những người khác nữa.

Khoe khoang cái gì, thì phải cẩn thận kẻo tương lai sẽ đánh mất đi chính cái đó

Khoe khoang cái gì thì chính là trong lòng đang khuyết thiếu cái ấy. Khi một người quá để tâm đến những thứ nào đó thì càng hiển lộ ra rằng bản thân mình đang tự ti ở điểm ấy. Sự khoe khoang của bản thân bạn chính là thứ khiến trời đất quỷ thần khó chịu nhất, và họ muốn nghĩ cách để giúp bạn loại bỏ sự khoe khoang, kiêu ngạo đó đi. Do đó nếu bạn có thể bỏ đi cái tính khoe khoang, kiêu ngạo của bản thân mình, thì đây là điều rất tốt cho bạn.

Thay vì khoe khoang hãy cố gắng sống tốt hơn

Trong cuộc sống, chúng ta nên thành thật nhìn lại để biết mình là ai, khả năng đang ở mức nào. Nhận rõ như thế sẽ biết đủ, biết bằng lòng với những gì đang có và phấn đấu trong khả năng thực tế của mình để không quá khoe khoang cũng như mong cầu hay ảo tưởng một cách thái quá. Người biết đủ thì nằm dưới đất cũng cảm thấy yên ổn và luôn hạnh phúc. Nếu lúc nào cũng chỉ biết tham cầu, ảo tưởng dù có được nằm trên trời thì cũng chỉ biết lo lắng, bất an. Trên mọi hoàn cảnh, nếu luôn bình tâm tỉnh trí, lắng lại cõi lòng, lâu ngày trở thành thói quen và sẽ cảm nhận được năng lực định tỉnh, trí sáng, lòng mình nhẹ an. Lúc này mới cảm nhận được giá trị sống này là tối thượng, mọi thứ bên ngoài trở nên bình thường, không còn đủ sức hấp dẫn hay chi phối nữa. Một khi đã có sức sống này rồi thì tùy thời vận dụng rất linh hoạt, thành công. Với một thời đại văn minh, chúng ta cũng đủ năng lực và trí tuệ để phát huy tốt.
Cái đáng tự hào là sự thành thật cho nên bạn hãy ngừng việc khoe khoang bản thân lại. Chính sự  kiêu ngạo từ con người bạn có thể làm tổn thương người khác. Hãy sống là chính mình một cách cao thượng, không phải dính mắc, cố chấp vào những thành tựu mình đạt được và quá nghĩ nhiều đến những việc cao xa. Nếu bạn có thể bỏ đi cái tính khoe khoang, kiêu ngạo của bản thân mình, thì đây là điều rất tốt cho bạn.HET=NAM MO A DI DA PHAT.(3 LAN ).NIEM PHAT DUONG KIM LIEN.THICH NU TAM GIAC.AUSTRALIA,SYDNEY.25/9/2017.
Trong nhiều bài kinh chúng ta cũng thường thấy hình ảnh đức Phật cũng bị bệnh tật. Đúng vậy đã có thân thì chắc chắn phải có bệnh. Vậy nguồn gốc của nó là từ đâu? bệnh tật cũng do nhân quả sinh ra, nghiệp lực tác thành. Nó bắt đầu từ lúc con người ta sinh ra. Con người luôn có bệnh dù nó ở thân hay tâm mình điều đó là chắc chắn. Người có tâm lành mạnh và hành vi thiện lành sẽ ít bị vấn đề nơi thân hơn là người có tâm bệnh. Nếu tất cả những vấn đề của tâm đều được giải trừ, thì đó là giải thoát. Người có thân hình mạnh khỏe nhưng tâm bệnh chắc rằng sẽ đau khổ nhiều hơn là người chỉ có những vấn đề nơi thân xác. Thân bệnh thì đau đớn còn tâm bệnh thì khổ não. Phật pháp không thể giúp chúng ta khỏi nỗi đau, nhưng nó có thể giúp diệt trừ khổ não.

Thân bệnh

Thân bệnh phát sinh là do tích lũy những chất độc bao gồm ý nghĩa tinh thần cũng như vật thể. Hay đem vào trong cơ thể những thức ăn hằng ngày không tốt cho cơ thể mà chúng ta không biết cũng như không để ý vì do tập quán. Rồi từ đó theo dòng thời gian thì những chất độc này không được đào thải hết ra ngoài và nó ở lại trong người và chính lúc đó thân bệnh hình thành. Có câu hỏi được đặt ra tại sao những chất độc đó không tạo thành một loại bệnh? Câu trả lời là cơ thể mỗi con người không hề giống nhau, có người yếu về bộ phận này nhưng lại mạnh về bộ phận khác, một phần do yếu tố di truyền từ cha mẹ truyền lại. Chất độc tụ lại trong người khi nó vượt quá giới hạn nào đó mà cơ thể không còn chịu đựng được nữa, cũng vì thế mà có người sinh ra bệnh.

Thân bệnh và tâm cũng bệnh

Một con người chưa học hỏi cũng như nghe Chánh pháp, thì chắc chắn khi đối diện với sự sinh khởi, vị ngọt hay tai họa cũng như xuất ly của sắc thân, người ấy sẽ không thấy biết như thật cho nên đối điều này có thể nảy sinh ý niệm tham ái, ưa thích, đắm trước, rồi dẫn đến bản thân cho rằng ngã là chủ thể của sinh mạng, hoặc giả cho rằng sắc thân này là tôi. Vì chấp trước như thế nên khi sắc thân này phát sinh bệnh tật hay biến hóa và bại hoại thì tâm cũng theo đó mà bị tác động khiến sinh khởi ưu, bi, não, khổ, khiếp sợ, luyến tiếc, không buông bỏ được, gây chướng ngại giải thoát và làm cho bệnh thêm trầm trọng.

Tâm bệnh thì khổ não

Bệnh hoạn nơi tâm hồn chúng ta phần lớn là do thói quen ôm vào những cái không phải của bản thân mình. Bản tính con người chúng ta luôn giành lấy những gì có thể nhìn thấy hay sờ mó được trên thế gian này.Khi nói đến tâm bệnh thì không thể nào mà không đề cập đến ba thứ độc hại: tham, sân và si là những thứ luôn tiềm ẩn trong con người chúng ta.

Thân bệnh đừng để tâm bệnh

Một khi thân bệnh mà tâm không bệnh, thì dù thân bệnh nặng cũng không vì vậy mà sầu  khổ, ngược lại sẽ luôn biết lạc quan, tự tin và tinh tấn hành trì cố gắng thực tập lời Phật dạy, lấy thân bệnh như đối tượng để thiền quán cố gắng tập buông xả, sống thảnh thơi, nhờ vậy bản thân có thể chuyển hóa được mọi nghiệp lực đã tạo thành mà vượt qua được tật bệnh. Nhưng khi để tâm có bệnh thì chắc rằng dù thân thể có khỏe mạnh cũng chẳng có gì an vui. Mỗi người chúng ta hãy sống giống như tinh thần mà đức Phật luôn hướng dẫn để tìm ra sự thật của nó, khi bản thân con người đã hiểu biết cũng như nhận thấy sự thật của các pháp thì bản thân sẽ không còn thấy sợ hãi hay lo lắng mỗi khi bệnh tật, cảm thọ tác động lên hoặc có một số tai nạn rủi ro xảy ra trong cuộc sống đời thường. Chúng ta hãy biết ứng dụng phương pháp và cách thức vượt qua bệnh khổ trên thân mà chính đức Phật đã chỉ dạy để cho thân tâm ngày nào cũng được thanh thản và an lạc.
Đã biết thân là gốc khổ, không bị nó chi phối thì chắc chắn tâm chúng ta sẽ thanh tịnh an nhàn, dù cuộc đời gặp cảnh thuận nghịch hay danh lợi bày ra trước mắt ta cũng không bị lay động. Bản thân luôn làm chủ tâm mình, không để những tâm tham lam, sân giận, si mê hoành hành gây tổn thương đến mình và người. Biết quảng đại mở rộng tấm lòng từ bi để có thể yêu thương đến muôn loài vạn vật và những kẻ khốn khó. Để hiện tại chính bản thân mình và người được an vui mai sau giải thoát.HET=NAM MO A DI DA PHAT.( 3 LAN ).NIEM PHAT DUONG KIM LIEN.THICH NU TAM GIAC.AUSTRALIA,SYDNEY.25/9/2017.

Sunday, 24 September 2017

Ý nghĩa của sự ăn chay

Ăn chay nói chung là vì lòng từ bi và tránh ác báo cũng như thuận ích cho con đường tu hành. Nếu lập cơ bản nơi bốn điểm này mà dùng chay, thì chắc chắn sự thực hành sẽ bền và tăng thêm phước huệ. Nhưng trái với điểm cơ bản đó, tất việc làm chỉ có tính cách thời gian hay khó bền bỉ, kết cuộc sẽ không được lợi ích gì thiết thật trên đường tu.

Ăn chay không phải là điều kiện để giải thoát hay giác ngộ

Mặc dù nhìn chung cho thấy hiện nay số lượng người ăn chay đang có khuynh hướng gia tăng nhiều vì những lý do khác nhau, nhưng nếu chỉ xét riêng về nhận thức của Phật tử đối với việc ăn chay thì thực sự không nhiều lắm. Việc ăn chay sẽ không giúp chúng ta đạt đến sự giải thoát đích thực. Nếu bạn là người ăn chay trường và xem đó giống như một thành quả tu tập mà hề không quan tâm đến các pháp tu khác thì chắc chắn đó là một sai lầm nghiêm trọng. Một người có thể ăn chay vài chục năm nhưng điều đó không nói lên được sự tiến bộ tâm linh trong tu tập. Ăn chay cũng có thể là một bước tiến hay một thay đổi tốt trong sự tu tập nói chung của ta, nhưng nếu chỉ biết ăn chay thôi mà không biết hành trì bất kỳ một pháp môn nào khác cũng như không quan tâm đến việc tu dưỡng tâm tánh, thì chắc rằng sự ăn chay của bạn sẽ không hề mang lại bất cứ lợi ích nào.

Ăn chay không bằng tu tâm tính hướng về Phật

Đừng bao giờ tự ép buộc bản thân mình phải ăn chay nếu trong tâm chưa thực sự sẵn sàng. Nếu ăn chay được thì tất nhiên đó là một điều tốt và hãy tận dụng điều kiện tốt đẹp đó để thực hành các pháp tu mà đức Phật đã truyền dạy. Và nếu bản thân con người thực sự có tu tập như thế, chắc chắn sẽ không có chỗ cho những sự kiêu mạn, kích bác hay tranh biện khởi lên trong tâm mình.Thật ra, việc ăn chay tự nó không hề tạo ra công đức gì cả. Nếu con người từ bỏ việc ăn thịt, đó là bắt đầu dừng lại những nghiệp ác của chính mình, nhưng không có nghĩa là đang tạo tác nghiệp lành. Hơn thế nữa, sự chuyển hóa tâm thức trên con đường tu tập đòi hỏi bản thân mỗi người phải có những nỗ lực tu dưỡng, sửa đổi và hoàn thiện chính mình, và những điều đó không tự nhiên diễn ra chỉ vì ăn chay.

Ăn chay nhưng cái tâm lại ăn mặn

Ngoài miệng thì niệm Phật lâm râm, nhưng bên trong tâm thì quá hung dữ. Thế nên, cho dù ăn chay nhiều hay thường xuyên niệm Phật mà bản thân không chịu thay đổi cho thiện thì chỉ làm trò cười cho thiên hạ mà thôi. Vì vậy, khi nói lời tu, người Phật tử phải nhớ thân miệng thì ý cũng phải phải thiện. Con người chân chính không đặt nặng việc đi chùa thường, tụng kinh giỏi hay ăn chay nhiều, mà phải biết tu ba nghiệp thân khẩu ý cho thiện. Tức là chuyển hóa ba nghiệp ác thành những nghiệp thiện, mỗi khi đi chùa niệm Phật ăn chay là phải nhớ từng hành động lời nói cũng như ý nghĩ luôn luôn phải thiện. Như vậy, thì có lúc nào là không tu. Chẳng hạn thân cuốc cỏ khi xưa thấy rắn thì lấy cuốc đập chết, nay thấy rắn tránh đi không đập, đó đã là chuyển nghiệp thân ác thành thiện. Xưa khi bản thân tiếp xúc với bạn bè đôi lúc họ nói lời hung dữ làm mình tức giận bèn nói nặng lời cho đỡ ghét, nhưng nay nhớ mình là người tu không được lớn tiếng gây cãi nên cố gắng im lặng mà nhẫn nhịn. Ðó chính là chuyển nghiệp khẩu ác thành thiện rồi.
Tất cả chúng ta đều sẵn có hai thứ tâm địa, đó là hiền lương và bất lương. Tu tâm dưỡng tánh nghĩa là làm sao sửa đổi cũng như cố gắng chừa bỏ những tâm niệm trên đây, làm sao khi có gió thổi đến, mà mặt biển tâm thanh tịnh của bản thân chúng ta không một chút xao động và gợn sóng, tức là chính mỗi người chúng ta đã đạt được mục đích cứu kính của Đạo Phật rồi. Đó mới thực sự là một người chơn chính tu theo giáo lý nhà Phật, mới được xem là một Phật Tử thuần thành, dù là tại gia cư sĩ hay xuất gia tu sĩ.HET=NAM MO A DI DA PHAT.( 3 LAN ).NIEM PHAT DUONG KIM LIEN.THICH NU TAM GIAC.AUSTRALIA,SYDNEY.25/9/2017.
Ai cũng biết Đức Phật ngoài mười hiệu tôn quý thì còn được xưng tán là y vương hay bậc thầy của các thầy thuốc trong việc trị liệu tâm bệnh của toàn thể chúng sanh. Không chỉ riêng chữa trị tâm bệnh mà Ngài còn là một vị thầy thuốc đúng nghĩa có thể chữa trị cả thân bệnh nữa. Vì chắc rằng bệnh tật hay ốm đau vốn không chừa một ai nên con người hiểu về bệnh trạng của mình nhằm có cách trị liệu cũng như điều dưỡng thích hợp khiến bệnh mau lành là một điều rất cần.

Vượt qua bệnh tật

Bệnh tật chắc chắn là một thứ gì đó thật bình thường và tự nhiên, mà mỗi con người không thể nào tránh được trong thời gian tồn tại của mình. Vì thế mà chính Đức Phật đã khuyên mỗi người chúng ta hãy xem nó như một đề tài để khảo sát cũng như nghiên cứu, hòng giúp bản thân mình khám phá ra các phương pháp thích nghi nhằm chữ trị nó. Nhờ đó chúng ta chắc chắn sẽ có thể hướng sự cảm nhận của mình vào con đường giúp ta có thể loại bỏ mọi thứ chướng ngại. Thể dạng an bình và tươi mát hay một hình thức an trú nào đó đều có thể hiện ra với mỗi chúng ta từ bệnh tật.

Hãy đến với Đức Phật để chữa trị bệnh tật

Đối với Phật giáo thì khổ đau không phải chỉ là những thứ đớn đau trên chính thân xác và những bấn loạn trong tâm thần, mà nó còn là sự già nua cũng như cái chết mọi thứ hiện hữu và trói buộc chúng ta trong thế giới luân hồi này. Phật giáo đưa bản thân con người hướng vào một chủ đích cao quý cũng như dứt khoát hơn nhiều là mang lại cho mỗi người chúng ta một sức khỏe vĩnh viễn, vẹn toàn và tuyệt đối hơn, có thể loại bỏ được mọi thứ khổ đau mang tính cách hiện sinh trong chính thế giới hiện thực này đó đã là sự giải thoát và giác ngộ tối thượng.

Phật Giáo đối với vấn đề sức khỏe và bệnh tật

Trong quan điểm Phật Giáo thì sức khỏe lành mạnh chính là kết quả tương quan  với nghiệp thiện trong quá khứ và ngược lại. Điều này có thể nhấn mạnh mối liên hệ giữa đạo đức cũng như sức khỏe. Chắc chắn sức khỏe mỗi người tùy thuộc vào lối sống của bản thân ta, có thể hiểu như cách mà chúng ta suy nghĩ, cảm nhận hay sống. Bệnh tật chính là hệ quả của lối sống không lành mạnh, chẳng hạn, như một người trụy lạc về sắc dục. Yếu tố đạo đức này là theo quan điểm Phật Giáo về sức khỏe luôn đóng vai trò rất quan trọng đối với mọi hoạt động tinh thần cũng như thực hành tôn giáo trong việc thăng tiến sức khỏe và trị liệu.

Các điều kiện trị liệu bệnh tật trong kinh điển Phật giáo

Bên cạnh những phương cách điều trị bằng thức ăn hay dược liệu thì chắc chắn người bệnh cũng cần được chăm sóc về phương diện tinh thần. Những pháp an ủi như quán thập tưởng chính là những liệu pháp điều trị về phương diện tinh thần. Ở đây, việc tìm hiểu vì sao thất giác chi được vận dụng nhiều như một liệu pháp trị bệnh hay một yêu cầu cần làm sáng tỏ. Căn cứ vào kinh điển và luật tạng thì cho thấy, tùy theo bệnh tình của từng đối tượng mà có thể sử dụng liệu pháp điều trị tương ứng.

Nghi thức tụng niệm giúp chữa lành bệnh tật

Bằng nghi thức tụng niệm bản thân ta thường nghĩ rằng đức Phật có thể ban cho mình phước về tuổi thọ hay tiêu hết bệnh tật cho nên ta thành tín về điều đó. Nhờ sự tập trung mà chắc hẳn nỗi đau được quên đi một phần nào đó. Về phương diện tâm lý thì nó cũng thay thế nhưng có điều kiện, trong khi phương pháp thay thế lý tâm hóa có lẽ vẫn tốt hơn. Dĩ nhiên, tâm lý của người bệnh luôn có những phức tạp tùy theo người đó là Phật tử hay không hoặc ở tuổi trẻ hay già.

Đức Phật dạy không nên quá lo lắng về bệnh tật

Bệnh tật là một thứ gì đó cần phải nghiên cứu và suy tư, thế nhưng đồng thời Đức Phật cũng luôn khuyên mỗi người chúng ta không nên quá lo lắng về các chuyện ấy chỉ cần cố gắng luyện tập một cách nhẹ nhàng, có nghĩa là chỉ cần vừa phải ví dụ như khi hô hấp, chẳng cần phải cố gắng hít vào hay thở ra. Và cũng bởi vì cho dù có quá lo lắng, chỉ khiến tâm thêm phiền muộn, thân thêm nặng nề mà không dứt bệnh. Lo lắng đó nên thể hiện ở việc mình lo lắng cho người săn sóc, lo lắng cho những gì còn dang dở.
Chắc chắn rằng đã bệnh thì sẽ đau và khổ. Nhưng không vì thế mà để bản thân cau có khó chịu, nhất là làm như vậy đối với người săn sóc mình. Luôn cảm ơn và thương kính người đã cố gắng săn sóc cũng như giúp đỡ ta trong lúc ốm đau. Nhờ bệnh bản thân con người mới hiểu ra mình cần đến mọi người và ai mới thực sự là người thương quý mình. Hay tình thương của Đức Phật đối với chúng sanh thật là bao la rộng lớn. Học theo đức hạnh của Ngài, người con Phật nguyện trị liệu bệnh tật cho thân tâm mình và chắc chắn sẻ chia năng lực và tuệ giác để giúp người vượt qua bệnh tật.HET=NAM MO A DI DA PHAT.( 3 LAN ).NIEM PHAT DUONG KIM LIEN.THICH NU TAM GIAC.AUSTRALIA,SYDNEY.25/9/2017.
Muốn vượt qua cám dỗ hay khó khăn cũng như danh vọng trong chính cuộc sống này chắc chắn không gì hơn trí tuệ. Có được nó thì có tất cả. Không có trí tuệ sẽ làm con người dễ bị cám dỗ. Cái nữa  là danh, lợi và tình ái, ba thứ cám dỗ này khiến bản thân mỗi người dễ mắc phải và bị nó nhận sâu vào bùn nhơ tội lỗi.

Học cách từ bỏ cám dỗ và danh vọng

Để từ bỏ địa vị tham vọng cũng như nhiều thứ cám dỗ, đương nhiên các Phật tử chắc chắn phải có đối tượng để hướng tâm tới là Phật hay Bồ-tát. Vì vậy mà có thể học các vị này nhưng quan trọng nhất Phật dạy là huệ bắt đầu phát sanh, đó cũng là do học kinh Phật mà mỗi người chúng ta biết được cái gì thực sự quý giá trong cuộc sống này và muôn kiếp về sau. Mạng người ngắn ngủi và vô thường, sao chúng ta không tinh tấn thể hiện pháp Phật để có thể ra khỏi thế giới mộng ảo này, mà còn sống với si mê. Đương nhiên bản thân mỗi người chạm trán với nhiều cám dỗ, nhưng phải nhớ chúng ta cũng có bản lĩnh để không bị rơi vào cạm bẫy.

Phương tiện truyền thông châm ngòi cho cám dỗ

Những đam mê của tuổi trẻ rất mạnh mẽ. Tuy nhiên, phim ảnh truyền hình hay âm nhạc và sách báo nhắm vào người trẻ thường châm ngòi cho những đam mê tội lỗi này, khiến bản thân người ta nghĩ nếu mình nhượng bộ cám dỗ thì không có sao. Chẳng hạn, nếu như hai nhân vật trong phim đang yêu nhau, chắc chắn họ sẽ quan hệ với nhau ở một cảnh nào đó trong phim. Tuy nhiên có thể người nam và nữ đời thường có khả năng tiếp tục tránh các ham muốn xác thịt.

Học cách lắng nghe để vượt qucám dỗ

Phật dạy mỗi người chúng ta học rộng nghe nhiều và có đọc tụng kinh điển, lòng ta mới sáng ra và hiểu được những điều vi diệu. Vì vậy, chỉ mới có chút xíu huệ phát đã giúp ta xa lìa cám dỗ, vì chắc chắn khi tâm chúng ta hướng về Phật thì chuyện trần tục thế gian cũng như tham vọng không lôi cuốn mình được. Người vì quá tham lam sẽ không thấy cũng như không biết gì, chắc chắn dễ bị cám dỗ. Nghe lợi danh mà ham là sẽ chết. Người hiểu đạo luôn biết sợ lợi danh. Người ham muốn nhiều là ác ma, cho nên khi bị kẹt vô đây là ta phải đấu với nó.

Danh lợi là thứ dễ mất đi

Thật vậy, danh mình có hôm nay chắc chắn ngày mai có thể thay đổi. Có trí tuệ, bản thân chúng ta nhận ra cái thực. Tất cả quyền lợi thế gian mà con người nghĩ là thực, nhưng có lẽ chính cái thực đó cũng là giả. Hôm nay người thấy mình có năng lực thực và làm lợi ích cho nhiều người thì đó là người có tài được đại chúng tôn lên. Vì cái gì thực thì phải tồn tại vĩnh viễn và chắc chắn không thay đổi, nhưng những cái danh này thay đổi từng phút giây, nên được gọi là hư danh. Trước khi tu các Phật tử đã ý thức được lý này, nên phát tâm xuất gia để có mạng sống vĩnh viễn thực. Vì đọc lịch sử, thấy biết bao người tài giỏi cũng như đức hạnh, danh tiếng lẫy lừng, nhưng chết rồi thì cái danh không thể tồn tại vĩnh viễn. Người tốt thực sự chắc chắn danh tốt còn để lại, nhưng thử nghĩ xem con người thực của họ không biết sẽ đi về đâu. Những người khởi ý niệm xuất gia, vì thực sự nhận ra tất cả mọi việc trên cuộc đời này là hư ảo.

Tại sao con người sợ danh vọng và cám dỗ

Có trí tuệ sẽ nhận ra hư danh hay giả danh, vì đôi lúc mình không có khả năng thật, nhưng người ta tạo cho mình chẳng hạn hay dán cho mình cái nhãn hiệu là người tài giỏi. Điều này rất nguy hiểm, vì bản thân người ta đưa mình lên được, chắc chắn cũng hạ mình xuống được. Thực tế cuộc sống luôn cho thấy nhiều người chết vì danh. Thực tài mới có danh. Không thực tài mà tự bản thân xưng là giả mạo. Người có trí tuệ chắc chắn biết giả danh sẽ dẫn đến nguy hiểm, nên họ không bao giờ giả mạo. Vì vậy, hãy cố gắng tập sống bằng người thực, việc thực, tập cho bản thân có khả năng thực và không bao giờ chấp nhận vấn đề giả danh.
Để kẹt vào danh lợi hay vật chất, chắc chắn khó thoát. Nếu chúng ta là Phật tử có trí tuệ hãy biết sợ giả danh, hư danh, nhưng thực danh cũng phải cân nhắc. Xuất gia, hay tại gia đã là đệ tử của Phật, bước theo dấu chân Ngài thì đừng bao giờ lẹ vào danh, lợi, tình ái, mà hãy biết sẵn sàng xả bỏ tất cả, để có thể trở về chân tâm, bổn độ. Người còn kẹt danh, nên phản tỉnh và tìm về con đường chân thật.HET=NAM MO A DI DA PHAT.( 3 LAN ).NIEM PHAT DUONG KIM LIEN.THICH NU TAM GIAC.AUSTRALIA,SYDNEY.25/9/2017.

Wednesday, 6 September 2017

Nguồn gốc lễ Vu Lan và nghi thức Bông hồng cài áo.

 
Hàng năm cứ vào độ trăng tròn tháng Bảy âm lịch, tức khoảng trung tuần tháng Tám dương lịch là ngày lễ Vu Lan trở về. Vào ngày này các chùa Việt Nam và Trung Hoa thường thiết lễ rất trọng thể và các Phật tử đến tham dự rất đông đảo để cầu nguyện cho cha mẹ hiện tiền được an lạc, cha mẹ quá vãng được siêu sanh tịnh độ, cùng là được nghe các thầy giảng về ý nghĩa lễ Vu Lan và đạo hiếu của người con đối với các bậc sinh thành.

Nguồn gốc Lễ Vu lan

Lễ Vu Lan chính thức được bắt nguồn từ một bản kinh ngắn của Phật Giáo Đại Thừa "Phật Thuyết Kinh Vu Lan Bồn", do ngài Trúc Pháp Hộ dịch từ tiếng Phạn sang tiếng Hán vào đời Tây Tấn, tức khoảng năm 750-801 sau Công Nguyên và được truyền từ Trung Hoa vào Việt Nam, không rõ từ năm nào.

Chữ Vu Lan, vốn phiên âm từ tiếng Sanscrit: Ullambana, Hán dịch là giải đảo huyền, có nghĩa là “cứu nạn treo ngược”.

Xuất phát từ sự tích về Bồ tát Mục Kiền Liên đại hiếu đã cứu mẹ của mình ra khỏi kiếp ngạ quỷ. Vu Lan là ngày lễ hằng năm để tưởng nhớ công ơn cha mẹ (và tổ tiên nói chung) - cha mẹ của kiếp này và của các kiếp trước.

Theo kinh Vu Lan thì ngày xưa, Mục Kiền Liên đã tu luyện thành công nhiều phép thần thông. Mẫu thân ông là bà Thanh Đề đã qua đời, ông tưởng nhớ và muốn biết bây giờ mẹ như thế nào nên dùng mắt phép nhìn khắp trời đất để tìm. Thấy mẹ mình, vì gây nhiều nghiệp ác nên phải sanh làm ngạ quỷ, bị đói khát hành hạ khổ sở, ông đã đem cơm xuống tận cõi quỷ để dâng mẹ. Tuy nhiên do đói ăn lâu ngày nên mẹ của ông khi ăn đã dùng một tay che bát cơm của mình đi tranh không cho các cô hồn khác đến tranh cướp, vì vậy khi thức ăn đưa lên miệng thức ăn đã hóa thành lửa đỏ.

Mục Liên quay về tìm Phật để hỏi cách cứu mẹ, Phật dạy rằng: "dù ông thần thông quảng đại đến đâu cũng không đủ sức cứu mẹ ông đâu. Chỉ có một cách nhờ hợp lực của chư tăng khắp mười phương mới mong giải cứu được. Ngày rằm tháng bảy là ngày thích hợp để vận động chư tăng, hãy sắm sửa lễ cúng vào ngày đó".

Làm theo lời Phật, mẹ của Mục Liên đã được giải thoát. Phật cũng dạy rằng chúng sanh ai muốn báo hiếu cho cha mẹ cũng theo cách này (Vu Lan Bồn Pháp). Từ đó ngày lễ Vu Lan ra đời.

Nguồn gốc thật sự của nghi thức "Bông Hồng Cài Áo"

Nghi thức "Bông Hồng Cài Áo" thường được tổ chức trong ngày Lễ Vu Lan ở các ngôi chùa Việt Nam hằng năm để tưởng nhớ những bà mẹ đã khuất và vinh danh những bà mẹ còn tại thế với con cháu. Trong nghi thức đó, các em Phật Tử, với hai giỏ hoa hồng, màu đỏ và màu trắng, sẽ đến cài hoa lên áo từng người dự lễ.

Nếu anh còn mẹ, anh sẽ được cài một bông hoa màu hồng trên áo, và anh sẽ tự hào được còn mẹ. Còn nếu anh mất mẹ, anh sẽ được cài trên áo một bông hoa trắng.



Rằm tháng 7 Âm lịch cũng là ngày xá tội vong nhân mà dân gian gọi nôm na là ngày cúng chúng sinh.

Nhưng lễ cúng chúng sinh khác với lễ Vu Lan dù được cử hành trong cùng Ngày Rằm. Một đằng là để cầu siêu cho cha mẹ nhiều đời được siêu thoát, một đằng là để bố thí thức ăn cho những vong hồn chưa được siêu thoát, những vong hồn không nơi nương tựa, không người cúng kiếng

 

Vu Lan - Truyền thống của đạo hiếu.


Cứ mỗi năm đến ngày rằm tháng bảy, tất cả người con Phật đều nhớ đến trách nhiệm báo ân báo hiếu đối với hai đấng sinh thành.

Hàng Phật tử khắp nơi cùng nhau long trọng tổ chức Đại lễ Vu Lan, nương vào uy đức ngôi Tam bảo, cầu nguyện cho Cha Mẹ còn sống được an lạc trong chính pháp, Cha Mẹ đã qua đời siêu sinh về các cõi lành.

Thương cha kính mẹ được coi là truyền thống tốt đẹp lâu đời của mỗi người dân Việt. Tình thương đối với Cha Mẹ luôn luôn là mối ân tình thiêng liêng nhất.

Từ thuở xa xưa đến nay, tấm gương hiếu hạnh của Tôn giả Mục Kiền Liên vẫn mãi mãi soi sáng, làm thắm đượm nhân tình. Sau khi thành đạt đạo quả A La Hán, ngài Mục Kiền Liên dùng thiên nhãn quan sát khắp, thấy Mẹ mình bị đọa đày làm loài quỷ đói.

Ngài là hàng đệ tử thần thông đệ nhất, tin rằng sẽ cứu được Mẹ qua cơn đói khát đày đọa tấm thân. Ngài với hai tay cầm bát cơm xuống cõi âm dâng lên cho Mẹ. Mẹ ngài cầm bát cơm vừa đưa ngang miệng, thì than ôi! Cơm hóa thành than hồng, không thể ăn được.

Tôn giả chính mắt chứng kiến cảnh tượng này, lòng đau khổ vô cùng. Tôn giả trở về xin Phật mở lượng từ bi cứu độ Mẹ ngài.

Phật dạy: “Mẹ ông đã nhiều kiếp gieo nhân xan tham keo kiệt, nên nay phải chịu quả báo làm loài quỷ đói. Một mình ông không thể cứu được. Phải nhân ngày rằm tháng bảy, tổ chức cúng dàng Phật và chúng Tăng trong mười phương, nhờ vào uy lực và sức chú nguyện của Phật và chúng Tăng mười phương thì mẹ ông mới có thể siêu thoát được”.

Sau đó, Tôn giả Mục Kiền Liên vâng theo lời Phật dạy, đến ngày rằm tháng bảy đem phẩm vật đến cúng dàng chúng Tăng mười phương. Mẹ của Ngài nhờ uy đức phúc lực của chúng Tăng và lòng chí thành chí kính của Ngài, sớm được thoát khỏi nỗi thống khổ của loài quỷ đói, siêu sinh về cõi lành.

Từ đó, ngày lễ Vu Lan được tổ chức long trọng để hàng Phật tử câu hội về ngôi Tam bảo, cúng dàng Đức Phật và chúng Tăng, cầu cho Cha Mẹ còn sống được thân tâm an lạc, sau khi mạng chung được sinh về các cõi lành.

Về phương diện giáo dục đạo đức của đạo Phật, một điểm đáng ghi nhận là giáo dục về hiếu đạo. Hiếu đạo là nền tảng đạo đức của đạo làm người cho ra người. Chúng ta có thể trang trải tình thương đến tất cả mọi loài mọi vật, nhưng điểm xuất phát làm nền tảng phải từ sự hiếu kính Cha Mẹ.

Một người có thể thương đủ hạng người, tình thương đó trùm hết muôn loài vạn vật, nhưng nếu không thương kính Cha Mẹ thì tình thương đó e thành giả dối, vì không có gốc rễ, không được lập cước từ căn bản. Cho nên hiếu đạo xưa nay vẫn thường được đề cao trong phạm vi luân lý đạo đức.

Nếu chưa thực hiện hiếu đạo ngay trong đời sống gia đình đối với Cha và Mẹ thì chưa thể xứng đáng là một con người. Người xưa có câu: “Thiên kinh vạn quyển, hiếu nghĩa vi tiên”.

Ngay như người xuất gia học đạo vẫn còn phải cưu mang bốn ân nặng là ân cha mẹ, ân sư trưởng, ân chúng sinh và ân tổ quốc. Trong bốn ân thì ân Cha Mẹ vẫn còn là mối ân tình sâu đậm với mỗi người xuất gia tu Phật. Trong “Cư trần lạc đạo” của vua Trần Nhân Tông viết:

Tụng kinh niệm Bụt
Chúc Thánh khẩn cầu
Tam hữu tứ ân
Ta nguyền được trả”.

Vì công ơn sinh thành dưỡng dục của Cha Mẹ quá là cao dày, nên Kinh Thi có câu: “Phụ hề sinh ngã. Mẫu hề cúc ngã. Ai ai phụ mẫu, Sinh ngã cù lao. Dục báo thâm ân, hiều thiên vãn cực”. (Cha sinh ra ta. Mẹ nuôi nấng ta. Thương Cha Mẹ lắm, vì sinh ta nhọc nhằn. Đến khi muốn báo đáp ân sâu, thì than ôi, trời cao không cùng!).

Công ơn sinh thành dưỡng dục của Cha Mẹ quả là lớn lao, như trời cao. Khi người con muốn đền đáp ân sâu thì lúc đó như trời cao với không tới, từ khi cưu mang đến mở mắt chào đời, trưởng thành và lớn khôn, Cha Mẹ phải chịu biết bao là khổ sở, nhọc nhằn. Thế mà khi sức sống đã truyền hết cho con thì Cha Mẹ hơi tàn sức tận, rồi trở thành “người thiên cổ”.

Ai có lớn lên nếm mùi cay đắng, thấm gót phong trần thì mới thắm thía cái ơn của Cha Mẹ mình. Một người biết đến điều ân nghĩa, chắc chắn không dám vội quên cái ơn của Cha Mẹ.

Phật dạy: “Này các Tỳ kheo, có hai hạng người, ta nói là không thể trả ơn được. Thế nào là hai? Đó là Mẹ và Cha. Nếu một bên vai cõng Mẹ, một bên vai cõng Cha, làm như vậy suốt một trăm năm, cho đến khi Cha Mẹ trăm tuổi. Như vậy, này các Tỳkheo, cũng chưa làm đủ để trả ơn cho Mẹ và Cha. Nếu đấm bóp, thoa xức, tắm rửa, xoa gội và dù tại đấy, Mẹ Cha có vãi đại tiện, tiểu tiện, dù như vậy, này các Tỳ kheo, cũng chưa làm đủ để trả ơn Mẹ và Cha...” 

Ca dao Việt Nam có câu:

Công Cha như núi Thái Sơn
Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Một lòng thờ Mẹ kính Cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”.

Ở người Cha, nổi bật là đức nghiêm; có nghiêm mới giáo dục con cái có đạo đức, có văn hóa, sau trở thành người đủ tài đủ đức, nên tính đức người Cha sừng sững, vòi vọi như núi Thái Sơn. Còn tính đức của người Mẹ thì muốn con có cuộc sống no ấm, đủ đầy; người Mẹ lại thường gần gũi, an ủi, vỗ về con cái hơn, nên tình nghĩa của người Mẹ, nó đậm đà, da diết như suối nguồn bất tận. Suối nguồn tình thương của người Mẹ, nó dịu dàng, đầm ấm, âm thầm tuôn chảy không bao giờ dừng nghỉ.

Phật dạy trong Kinh Nhẫn Nhục: “Cùng tột điều thiện không gì hơn hiếu, cùng tột điều ác không gì hơn bất hiếu”.

Một kẻ bất hiếu với Cha Mẹ là kẻ đã vong ân bội nghĩa, kẻ đã vong ân bội nghĩa thì không còn sự xấu ác nào ở trên thế gian mà họ không dám làm, kẻ ấy đã quên cội nguồn.

Có gì sung sướng bằng khi chúng ta còn Cha mẹ. Mỗi khi mùa Vu Lan về, chúng ta được cài lên áo chiếc hoa hồng tươi thắm. Sự hiện hữu của Cha Mẹ trong gia đình khác nào sự hiện hữu của các thiên thần. Còn Cha còn Mẹ là còn thiên đường của tuổi thơ. Còn Cha còn Mẹ là còn Phật trong nhà. Muốn đạt được tâm Phật, không gì hơn giữ gìn tâm hiếu; muốn đạt được hạnh Phật, không gì hơn giữ gìn hạnh hiếu. Vì mảng lo kính thờ Phật bên ngoài mà quên kính thờ Phật trong nhà, nên mới có câu: “Phật trong nhà không thờ, thờ Thích Ca ngoài đường”.

Phật dạy: “Những gia đình nào, này các Tỳkheo, trong ấy các con cái kính lễ Mẹ Cha ở trong nhà, những gia đình ấy được chấp nhận ngang bằng với Phạm Thiện. Những gia đình nào, này các Tỳ kheo, trong ấy các con cái kính lễ Mẹ Cha ở trong nhà, những gia đình ấy được chấp nhận như các đạo sư thời xưa. Những gia đình nào, này các Tỳ kheo, trong ấy các con cái kính lễ Mẹ Cha ở trong nhà, những gia đình ấy được chấp nhận là đáng được cúng dường”.

Phạm Thiên, này các Tỳ kheo, là đồng nghĩa với Mẹ Cha. Các đạo sư thời xưa, này các Tỳ kheo, là đồng nghĩa với Mẹ Cha. Đáng được cúng dường, này các Tỳ kheo, là đồng nghĩa với Mẹ Cha. Vì cớ sao? Giúp đỡ rất nhiều, này các Tỳ kheo, là Mẹ Cha đối với con cái, nuôi chúng lớn, dưỡng dục chúng, giới thiệu chúng vào đời” (Phật thuyết như vậy, Cat, 7 - 503)

Ân sâu nghĩa nặng của Cha Mẹ có thể kết thành những vần thơ tuyệt tác nhất. Và tự nhiên hạnh hiếu được coi là đức tính cao đẹp nhất, được đề cao nhiều nhất trong mọi thời đại, từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây. Dùng bút mực để diễn tả trọng ân của Cha Mẹ vẫn còn mãi với kiếp sống con người.

Vậy thì, đã là một Phật tử theo chính đạo, chúng ta phải báo đáp ân sinh thành dưỡng dục của Cha Mẹ thế nào mới xứng đáng? Muốn báo hiếu đầy đủ nhất phải gồm hai phần: vật chất và tinh thần.

1. Về đời sống vật chất thì phải lo hầu hạ, phụng dưỡng Cha Mẹ những nhu cầu cần thiết, để Cha Mẹ được thảnh thơi an dưỡng trong tuổi xế chiều.

2. Về đời sống tinh thần phải thường xuyên khích lệ trợ duyên cho Cha Mẹ học hiểu chính pháp, biết tránh ác làm lành, giữ gìn ba nghiệp lành, tiến đến giải thoát an vui vĩnh viễn

Có một Thiền sư, tuy bản thân xuất gia, nhưng vẫn giữ tròn hiếu đạo cho đến khi Cha Mẹ khuất bóng :

“Giang sơn còn nặng gánh tình
Trời chưa cho nghỉ thì mình cứ đi
Khi nào trời bảo thôi đi
Giang sơn cất gánh, ta thì nghỉ ngơi”.

Trong mùa Vu Lan năm nay, hàng Phật tử chúng ta nghiêng mình kính cẩn trước Phật đài, thề nguyền noi gương hiếu hạnh của đức Mục Kiền Liên, làm tròn trách nhiệm một người con chí hiếu chí kính, biết nhớ ơn và đền ơn đối với hai đấng sinh thành, càng nghĩ đến tất cả chúng sinh trong pháp giới đều được thoát khổ, đến bờ an vui giải thoát.HET=NAM MO A DI DA PHAT.( 3 LAN ).NIEM  PHAT DUONG KIM LIEN.THICH NU TAM GIAC.AUSTRALIA,SYDNEY.7/9/2017.

Friday, 1 September 2017

Kinh Pháp Môn Căn Bản
(Mùlapariyàya sutta).



Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú tại (tụ lạc) Ukkattha, trong rừng Subhaga (rừng Hạnh phúc), dưới gốc cây Sa-la vương. Tại chỗ ấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: "Này các Tỷ-kheo!". - "Bạch Thế Tôn", những Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói: "Này các Tỷ-kheo. Ta sẽ giảng cho các Người "Pháp môn căn bản tất cả pháp". Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói". - "Thưa vâng, bạch Thế Tôn", những Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
(Phàm phu)
-- Này các Tỷ-kheo, ở đây, có kẻ phàm phu ít nghe, không được thấy các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không được thấy các bậc Chơn nhân, không thuần thục pháp các bậc Chơn nhân, không tu tập pháp các bậc Chơn nhân, tưởng tri địa đại là địa đại. Vì tưởng tri địa đại là địa đại, người ấy nghĩ đến địa đại, nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với địa đại, nghĩ đến (tự ngã) như là địa đại, người ấy nghĩ: "Ðịa đại là của ta" - dục hỷ địa đại. Vì sao vậy? Ta nói người ấy không liễu tri địa đại.
Người ấy tưởng tri thủy đại là thủy đại. Vì tưởng tri thủy đại là thủy đại, người ấy nghĩ đến thủy đại, nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với thủy đại, nghĩ đến (tự ngã) như là thủy đại, người ấy nghĩ: "Thủy đại là của ta" - dục hỷ thủy đại. Vì sao vậy? Ta nói người ấy không liễu tri thủy đại.
Người ấy tưởng tri hỏa đại là hỏa đại. Vì tưởng tri hỏa đại là hỏa đại, người ấy nghĩ đến hỏa đại, nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với hỏa đại, nghĩ đến (tự ngã) như là hỏa đại, người ấy nghĩ: "Hỏa đại là của ta"- dục hỷ hỏa đại. Vì sao vậy? Ta nói người ấy không liễu tri hỏa đại.
Người ấy tưởng tri phong đại là phong đại. Vì tưởng tri phong đại là phong đại, người ấy nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với phong đại, nghĩ đến (tự ngã) như là phong đại, người ấy nghĩ: "Phong đại là của ta"- dục hỷ phong đại. Vì sao vậy? Ta nói người ấy không liễu tri phong đại.
Người ấy tưởng tri Sanh vật là Sanh vật... Người ấy tưởng tri chư Thiên là chư Thiên... Người ấy tưởng tri Sanh chủ là Sanh chủ... Người ấy tưởng tri Phạm thiên là Phạm thiên... Người ấy tưởng tri Quang âm thiên là Quang âm thiên... Người ấy tưởng tri Biến tịnh thiên là Biến tịnh thiên... Người ấy tưởng tri Quảng quả thiên là Quảng quả thiên... Người ấy tưởng tri Abhibhù (Thắng Giả) là Abhibhù...
Người ấy tưởng tri Không vô biên xứ là Không vô biên xứ... Người ấy tưởng tri Thức vô biên xứ là Thức vô biên xứ... Người ấy tưởng tri Vô sở hữu xứ là Vô sở hữu xứ... Người ấy tưởng tri Phi tưởng phi phi tưởng xứ là Phi tưởng phi phi tưởng xứ...
Người ấy tưởng tri sở kiến là sở kiến... Người ấy tưởng tri sở văn là sở văn... Người ấy tưởng tri sở tư niệm là sở tư niệm... Người ấy tưởng tri sở tri là sở tri...
Người ấy tưởng tri đồng nhất là đồng nhất... Người ấy tưởng tri sai biệt là sai biệt... Người ấy tưởng tri tất cả là tất cả...
Người ấy tưởng tri Niết-bàn là Niết-bàn. Vì tưởng tri Niết-bàn là Niết-bàn, người ấy nghĩ đến Niết-bàn, nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với Niết-bàn. Nghĩ đến (tự ngã) như là Niết-bàn, người ấy nghĩ: "Niết-bàn là của ta" - dục hỷ Niết-bàn. Vì sao vậy? Ta nói: Người ấy không liễu tri Niết-bàn.
(Vị hữu học)
Này các Tỷ-kheo, có Tỷ-kheo, hữu học tâm chưa thành tựu, đang sống cần cầu vô thượng an ổn khỏi khổ ách. Vị ấy thắng tri địa đại là địa đại. Vì thắng tri địa đại là địa đại, vị ấy đã không nghĩ đến địa đại, đã không nghĩ (tự ngã) đối chiếu với địa đại, đã không nghĩ (tự ngã) như là địa đại, đã không nghĩ: "Ðịa đại là của ta", - không dục hỷ địa đại. Vì sao vậy? Ta nói vị ấy có thể liễu tri địa đại.
Vị ấy thắng tri thủy đại... hỏa đại... phong đại... Sanh vật... chư Thiên... Sanh chủ... Phạm thiên... Quang âm thiên... Biến tịnh thiên... Quảng quả thiên... Abhibhù (Thắng Giả)... Không vô biên xứ... Thức vô biên xứ... Vô sở hữu xứ... Phi tưởng phi phi tưởng xứ... sở kiến... sở văn... sở tư niệm... sở tri... đồng nhất... sai biệt... tất cả...
Vị ấy thắng tri Niết-bàn là Niết-bàn; vì thắng tri Niết-bàn là Niết-bàn, vị ấy đã không nghĩ đến Niết-bàn, đã không nghĩ (tự ngã) đối chiếu với Niết-bàn, đã không nghĩ (tự ngã) như là Niết-bàn, đã không nghĩ: "Niết-bàn là của ta" - không dục hỷ Niết-bàn. Vì sao vậy? Ta nói vị ấy có thể liễu tri Niết-bàn.
(Bậc A-la-hán - I)
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, chánh trí giải thoát. Vị ấy thắng tri địa đại là địa đại. Vì thắng tri địa đại là địa đại, vị ấy không nghĩ đến địa đại, không nghĩ (tự ngã) đối chiếu với địa đại, không nghĩ đến (tự ngã) như là địa đại, không nghĩ: "Ðịa đại là của ta" - không dục hỷ địa đại. Vì sao vậy? Ta nói vị ấy đã liễu tri địa đại.
Vị ấy thắng tri thủy đại... hỏa đại... phong đại... sanh vật... chư Thiên... Sanh chủ... Phạm thiên... Quang âm thiên... Biến tịnh thiên... Quảng quả thiên... Abhibhù (Thắng Giả)... Không vô biên xứ... Thức vô biên xứ... Vô sở hữu xứ... Phi tưởng phi phi tưởng xứ... sở kiến... sở văn... sở tư niệm... sở tri... đồng nhất... sai biệt... tất cả... Vị ấy thắng tri Niết-bàn là Niết-bàn. Vì thắng tri Niết-bàn là Niết-bàn, vị ấy không nghĩ đến Niết-bàn, vị ấy không nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với Niết-bàn, không nghĩ đến (tự ngã) như là Niết-bàn, không nghĩ: "Niết-bàn là của ta" - không dục hỷ Niết-bàn. Vì sao vậy? Ta nói vị ấy đã liễu tri Niết-bàn".
(Bậc A-la-hán - II)
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, chánh trí giải thoát. Vị ấy thắng tri địa đại là địa đại. Vì thắng trí địa đại là địa đại, vị ấy không nghĩ đến địa đại, không nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với địa đại, không nghĩ đến (tự ngã) như là địa đại, không nghĩ: "Ðịa đại là của ta" - không dục hỷ địa đại. Vì sao vậy? Vì vị ấy không có tham dục, nhờ tham dục đã được đoạn trừ.
Vị ấy thắng tri thủy đại... hỏa đại... Vị ấy thắng tri Niết-bàn là Niết-bàn. Vì thắng tri Niết-bàn là Niết-bàn, vị ấy không nghĩ đến Niết-bàn, không nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với Niết-bàn, không nghĩ đến (tự ngã) như là Niết-bàn, không nghĩ: "Niết-bàn là của ta" - không dục hỷ Niết-bàn. Vì sao vậy? Vì vị ấy không có tham dục, nhờ tham dục đã được đoạn trừ.
(Bậc A-la-hán - III)
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, chánh trí giải thoát. Vị ấy thắng tri địa đại là địa đại. Vì thắng tri địa đại là địa đại, vị ấy không nghĩ đến địa đại, không nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với địa đại, không nghĩ đến (tự ngã) như là địa đại, không nghĩ: "Ðịa đại là của ta" - không dục hỷ địa đại. Vì sao vậy? Vì vị ấy không có sân hận, nhờ sân hận đã được đoạn trừ.
Vị ấy thắng tri thủy đại... hỏa đại... Vị ấy thắng tri Niết-bàn là Niết-bàn. Vì thắng tri Niết-bàn là Niết-bàn, vị ấy không nghĩ đến Niết-bàn, không nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với Niết-bàn, không nghĩ đến (tự ngã) như là Niết-bàn, không nghĩ: "Niết-bàn là của ta" - không dục hỷ Niết-bàn. Vì sao vậy? Vì vị ấy không có sân hận, nhờ sân hận đã được đoạn trừ.
(Bậc A-la-hán - IV)
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, chánh trí giải thoát. Vị ấy thắng tri địa đại là địa đại. Vì thắng trí địa đại là địa đại, vị ấy không nghĩ đến địa đại, không nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với địa đại, không nghĩ đến (tự ngã) như là địa đại, không nghĩ: "Ðịa đại là của ta" - không dục hỷ địa đại. Vì sao vậy? Vì vị ấy không có si mê, nhờ si mê đã được đoạn trừ.
Vị ấy thắng tri thủy đại... hỏa đại... Vị ấy thắng tri Niết-bàn là Niết-bàn. Vì thắng tri Niết-bàn là Niết-bàn, vị ấy không nghĩ đến Niết-bàn, không nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với Niết-bàn, không nghĩ đến (tự ngã) như là Niết-bàn, không nghĩ: "Niết-bàn là của ta" - không dục hỷ Niết-bàn. Vì sao vậy? Vì vị ấy không có si mê, nhờ si mê đã được đoạn trừ.
(Ðấng Như Lai - I)
Này các Tỷ-kheo, Như Lai là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, thắng tri địa đại là địa đại. Vì thắng tri địa đại là địa đại, Ngài không nghĩ đến địa đại, không nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với địa đại, không nghĩ đến (tự ngã) như là địa đại, không nghĩ: "Ðịa đại là của ta" - không dục hỷ địa đại. Vì sao vậy? Ta nói vì Như Lai đã liễu tri địa đại.
Như Lai thắng tri thủy đại... hỏa đại... Như Lai thắng tri Niết-bàn là Niết-bàn. Vì thắng tri Niết-bàn là Niết-bàn, Như Lai không nghĩ đến Niết-bàn, không nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với Niết-bàn, không nghĩ đến (tự ngã) như là Niết-bàn, không nghĩ đến (tự ngã) như là Niết-bàn, không nghĩ: "Niết-bàn là của ta" - không dục hỷ Niết-bàn. Vì sao vậy? Ta nói vì Như Lai đã liễu tri Niết-bàn.
(Ðấng Như Lai - II)
Này các Tỷ-kheo, Như Lai là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, thắng tri địa đại là địa đại. Vì thắng tri địa đại là địa đại, Như Lai không nghĩ đến địa đại, không nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với địa đại, không nghĩ đến (tự ngã) như là địa đại, không nghĩ: "Ðịa đại là của ta" - không dục hỷ địa đại. Vì sao vậy? Vì Như Lai biết rằng: "Dục hỷ là căn bản của đau khổ, từ hữu, sanh khởi lên, và già và chết đến với loài sinh vật". Do vậy, này các Tỷ-kheo, Ta nói vì Như Lai, với sự diệt trừ hoàn toàn các ái, sự ly tham, sự đoạn diệt, sự xả ly, sự từ bỏ hoàn toàn các ái, đã chơn chánh giác ngộ vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Như Lai thắng tri thủy đại... hỏa đại... Như Lai thắng tri Niết-bàn là Niết-bàn. Vì thắng tri Niết-bàn là Niết-bàn, Như Lai không nghĩ đến Niết-bàn, không nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với Niết-bàn, không nghĩ đến (tự ngã) như là Niết-bàn, không nghĩ: "Niết-bàn là của Ta" -- không dục hỷ Niết-bàn. Vì sao vậy? Vì Như Lai biết rằng: "Dục hỷ là căn bản của đau khổ, từ hữu, sanh khởi lên, và già chết đến với loài sinh vật". Do vậy, này các Tỷ-kheo, Ta nói vì Như Lai, với sự diệt trừ hoàn toàn các ái, sự ly tham, sự đoạn diệt, sự xả ly, sự trừ bỏ hoàn toàn các ái, đã chơn chánh giác ngộ vô thượng chánh đẳng chánh giác."

Như vậy, Thế Tôn thuyết giảng. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời dạy của Thế Tôn.HET=NAM MO A DI DA PHAT.( 3 LAN ).NIEM PHAT DUONG KIM LIEN.THICH NU TAM GIAC.AUSTRALIA,SYDNEY.1/9/2017.